Đăng nhập

TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Ung thư cổ tử cung là ung thư tiến triển chậm thường do papillomavirus ở người (HPV) gây ra lây lan qua đường tình dục. Thông thường khi mắc phải HPV không gây ra các triệu chứng cho đến giai đoạn muộn, Việc chẩn đoán nhiễm HPV có thể được phát hiện bằng phết tế bào Pap hoặc sinh thiết để tầm soát. Điều trị hiệu quả hơn trong giai đoạn đầu và có thể bao gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Ung thư cổ tử cung là một trong những loại ung thư có thể phòng ngừa được. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc-xin phòng ngừa HPV và xét nghiệm Pap smear thường xuyên có thể xác định những thay đổi tiền ung thư sớm.

Triệu chứng

   Nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên, có một vài dấu hiệu và triệu chứng có thể đề phòng, đặc biệt là nếu bạn đã biết rằng mình bị nhiễm vi-rút. Ung thư cổ tử cung ở giai đoạn muộn có nhiều khả năng gây ra các triệu chứng hơn ở giai đoạn đầu.

   Các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Mụn cóc sinh dục: Mặc dù chúng có thể là một dấu hiệu cho việc nhiễm HPV, tiền thân của ung thư cổ tử cung, nhưng hầu hết phụ nữ bị nhiễm virut HPV hoặc mụn cóc sinh dục không phát triển ung thư cổ tử cung.
  • Chảy máu âm đạo bất thường
  • Đau âm ỉ ở vùng chậu
  • Tiết dịch âm đạo: có thể là không màu hoặc màu hơi đỏ, không hoặc có mùi.
  • Đau lưng.
  • Phù chân.
  • Các triệu chứng ruột và bàng quang, chẳng hạn như tiểu không tự chủ và có máu trong nước tiểu
  • Các triệu chứng của ung thư di căn như: khó thở, lú lẫn và gãy xương bệnh lý.

​     

Nguyên nhân

   Ung thư cổ tử cung là phổ biến nhất ở độ tuổi từ 45 đến 65. Khoảng 15% ung thư cổ tử cung được chẩn đoán ở phụ nữ trên 65, hiếm khi gặp ở phụ nữ dưới 20 tuổi.

   Hơn 95% tất cả các chẩn đoán ung thư cổ tử cung có liên quan đến HPV, khiến việc phát hiện sớm virus trở nên quan trọng hơn.

   Những nguy cơ khác liên quan đến sự phát triển của ung thư cổ tử cung bao gồm:

  • Hút thuốc
  • Có nhiều bạn tình
  • Mang thai trước tuổi 20
  • Suy giảm miễn dịch, chẳng hạn như ở phụ nữ nhiễm HIV.

Chẩn đoán

   Ung thư cổ tử cung được chẩn đoán bằng xét nghiệm tế bào được lấy từ cổ tử cung. Có một số phương pháp được sử dụng để lấy mẫu, với Pap smear là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất.

   Nếu có khả năng ung thư cổ tử cung đã lan rộng, hoặc nếu các triệu chứng liên quan đến các khu vực khác của cơ thể, các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh có thể cần thiết để đánh giá mức độ di căn (sự lây lan của ung thư).

   Các phương pháp được sử dụng để chẩn đoán ung thư cổ tử cung bao gồm:

  • Khám thực thể: Bác sĩ sẽ thực hiện thăm khám để đánh giá sự thay đổi bề ngoài của âm đạo và cổ tử cung và các khu vực lân cận đồng thời xác định các tổn thương hoặc mụn cóc sinh dục. Soi cổ tử cung là phương pháp sử dụng một thiết bị trực quan phóng to cổ tử cung, có thể giúp bác sĩ của bạn có thể quan sát chi tiết hơn về cổ tử cung.
  • Pap smear: Pap smear là cách hữu ích nhất để chẩn đoán chứng loạn sản cổ tử cung. Sử dụng một bàn chải mềm đặc biệt, bác sĩ có thể thu thập các tế bào cổ tử cung để soi dưới kính hiển vi. Phương pháp này có thể xác định những thay đổi rất sớm - khi mà vẫn có thể loại bỏ hoàn toàn các mô bất thường trước khi nó trở thành ung thư.
  • Sinh thiết: Lấy ra một lượng mô lớn hơn so với những gì thu được trong phết tế bào Pap có thể giúp xác định kích thước và tính chất của các tế bào cổ tử cung hoặc loạn sản- nếu có bất thường được xác định trên phết tế bào Pap.
  • Hình ảnh học: Nếu bạn bị ung thư cổ tử cung có thể di căn ra ngoài một khu vực khác, bạn có thể cần phải làm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như X-quang, CT scan, siêu âm hoặc MRI của vùng chậu hoặc các khu vực khác của cơ thể.

​     

                  (Các công cụ thực hiện Pap smear thu thập tế bào cổ tử cung ở phụ nữ)

Điều trị

   Khi không được điều trị, chứng loạn sản cổ tử cung bắt đầu ở mức độ nhẹ, tiến triển thành loạn sản vừa, và sau đó có thể chuyển thành loạn sản nặng trước khi phát triển thành ung thư cổ tử cung.

   Nếu bạn bị ung thư cổ tử cung, không cần phải quá lo lắng, nhưng bạn cần phải chắc chắn rằng bạn được phẫu thuật hoặc điều trị y tế đúng cách càng sớm càng tốt.

   Điều trị ung thư cổ tử cung để loại bỏ các mô bị ung thư. Nếu các bác sĩ có thể xác nhận rằng toàn bộ khối u đã được loại bỏ và nó không xâm lấn, bạn có thể không cần phải điều trị thêm.

   Mặt khác, nếu ung thư lớn hoặc có khả năng đã xâm lấn, bạn có thể cần phải phẫu thuật rộng, hóa trị kết hợp với xạ trị có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn trong thời gian điều trị.

   Các lựa chọn phẫu thuật khác bao gồm thủ thuật cắt bỏ vòng điện (LEEP), phẫu thuật lạnh, khoét chóp, phẫu thuật cắt bỏ cổ tử cung hoặc cắt tử cung toàn phần.

Lời kết

   Ung thư cổ tử cung là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Có nhiều phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung hiệu quả, nhưng lưu ý rằng, căn bệnh này có tiên lượng sống sót cao hơn nhiều nếu được phát hiện sớm.

   Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư có thể phòng ngừa được, nhưng, vì HPV là một loại vi-rút phổ biến, nên phụ nữ có khả năng cao bị phơi nhiễm với nó.

   Hãy thường xuyên sàng lọc bằng việc khám sức khoẻ định kỳ, chú ý đến cơ thể của bạn nhiều hơn và làm những gì tốt nhất để bảo vệ cho chính mình.