Đăng nhập

SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu nghèo oxy trở về tim. Bệnh này thường gặp ở chi dưới, xảy ra khoảng 10 – 35%, người lớn. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm nhưng trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hằng ngày, điều trị lâu dài và tốn kém nhất là khi có biến chứng.

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của STMMT chi dưới

  • Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.
  • Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch nông và sâu
  • Khiếm khuyết van do bẩm sinh
  • Nhiều yếu tố khác: Nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, trên 50 tuổi…

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm

  • Người bệnh có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.
  • Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm
  • Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.
  • Các triệu chứng thường nặng lên vào chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc và giảm bớt vào buổi sáng sau khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao

Diễn biến tự nhiên của STMMT chi dưới

  • Dãn mao mạch và dãn các tĩnh mạch nông ở chân. Có 3 loại dãn tĩnh mạch nông: dãn thân tĩnh mạch, dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện, dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới. Các van bên trong tĩnh mạch dãn bị suy (mất chức năng)
  • Viêm tĩnh mạch – huyết khối: Là tình trạng sưng viêm của các tĩnh mạch nông hoặc sâu gây ra bởi cục máu đông. Gặp ở người bệnh bị các bệnh dễ đưa đến các huyết khối, bệnh nặng, mổ lớn, ngồi lâu (nghề nghiệp, đi máy bay đường dài)… Khi bị huyết khối tĩnh mạch nông: tĩnh mạch nổi hằn lên, sờ ấm và cứng dọc theo tĩnh mạch, rất đau, có thể kèm đỏ da. Khi bị huyết khối tĩnh mạch sâu: gây tắc và ứ trệ, chân nóng, đau, sưng đỏ, có thể bị chảy máu, ngứa, đau nhức nhối, nhiễm trùng thứ phát. Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp. Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.
  • Loạn dưỡng da chân do rối loạn biến dưỡng: da phù nề, dày lên, có thể dẫn đến tróc vảy, chảy nước và chàm da, thay đổi màu sắc, sạm da và xơ cứng bì.
  • Loét cẳng chân ở đoạn thấp, là biến chứng ở giai đoạn muộn nhất gây đau đơn và điều trị rất khó khăn. Ban đầu là loét nông, để lâu loét sẽ ăn sâu dần và rộng ra, dễ bội nhiễm, có thể tái đi tái lại nhiều lần.

Các xét nghiệm cần làm

+ Xét nghiệm đông máu.
+ Siêu âm Doppler đo tốc độ dòng máu và xem xét cấu trúc các tĩnh mạch chân.
+ Chụp X-quang tĩnh mạch để xem xét về giải phẫu của tĩnh mạch.

Điều trị STMMT

Nội khoa

  • Thay đổi thói quen sinh hoạt và công việc hằng ngày
  • Tuỳ trường hợp mà sử dụng các thuốc: giảm đau, kháng viêm, kháng sinh, chống đông, làm tan cục máu, làm bền thành mạch (aescin, flavonoid)…

​Chích xơ: áp dụng cho các dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới và khu trú.
Phẫu thuật: lấy bỏ các túi tĩnh mạch dãn, lột tĩnh mạch, sửa van, tạo hình tĩnh mạch qua da…
Can thiệp nội mạch bằng sóng cao tần hay laser: là kỹ thuật mới điều trị dãn tĩnh mạch, ít đau, mau hồi phục và đảm bảo thẩm mỹ, thay cho phẫu thuật lột tĩnh mạch kinh điển trước đây.

Nên làm gì để tránh các biến chứng

  • STMMT diễn biến mạn tính lâu dài theo thời gian và tuổi tác. 
  • Cần tập trung chữa trị tốt, có kế hoạch theo dõi tái khám định kỳ khi bệnh còn ở giai đoạn sớm. Điều trị bằng thuốc và vớ áp lực ở giai đoạn dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện hay dạng lưới. Ở giai đoạn dãn thân tĩnh mạch, cần đến phẫu thuật cắt bỏ hoặc can thiệp nội mạch phối hợp với điều trị nội khoa. 
  • Cần thay đổi thói quen làm việc và sinh hoạt; tránh đứng lâu hoặc ngồi bất động kéo dài; khi đi ô tô hay máy bay đường dài thì phải gấp duỗi chân từng lúc cho máu lưu thông, uống nhiều nước, mang tất dài hỗ trợ; giảm cân khi dư thừa; dùng thuốc đề phòng huyết khối tĩnh mạch sâu khi có chỉ định.
  •  Các tổn thương van tĩnh mạch mạn tính tuy không thể hồi phục, nhưng nếu điều trị tốt, người bệnh vẫn còn có thể làm việc sinh hoạt bình thường.