Đăng nhập

BỆNH RUBELLA VÀ HỘI CHỨNG BONG VẢY DA DO TỤ CẦU Ở TRẺ EM

Phát ban là phổ biến do mắc phải một số loại virut và vi khuẩn có thể khiến trẻ gặp phải các triệu chứng da đặc trưng. Điều này giúp bác sĩ có những chẩn đoán ban đầu đồng thời đưa ra phương pháp điều trị phù hợp nhất. Ngay từ thế kỷ 19, bác sĩ Cheinisse ở Pháp đã phân loại sáu bệnh dựa trên biểu hiện lâm sàng của từng loại và liên kết chúng với các nghiên cứu về bệnh dựa trên dân số. Các bác sĩ ngày nay vẫn thỉnh thoảng sử dụng thuật ngữ của ông khi phân loại các phát ban này và điều trị bệnh nhân.

Virút Rubella: “bệnh sởi Đức”

        Giống như bệnh sởi, rubella gây ra bởi một loại virus lây qua các giọt hắt hơi từ người bệnh trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp.

        Rubella thường nhẹ đối với người lớn và trẻ lớn với hơn một nửa số người nhiễm bệnh không có biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên Rubella có thể là một bệnh nhiễm trùng đặc biệt nghiêm trọng đối với thai nhi với khoảng 90% lây truyền từ mẹ sang con. Do việc tiêm vắc-xin trên toàn thế giới cho các bà mẹ không đầy đủ dẫn đến 110.000 trẻ sơ sinh bị nhiễm rubella hàng năm. Nhiều em bé bị dị tật bẩm sinh nghiêm trọng, như điếc, mù...và có nguy cơ thai chết lưu.

Biểu hiện

        Phát ban rubella bắt đầu trên mặt và nhanh chóng xuất hiện ở ngực, lưng và chân tay sau khoảng hai đến ba tuần sau khi tiếp xúc và biến mất trong vài ngày. Các nốt phát ban giống như bệnh sởi, có các đốm màu hồng đến đỏ, bề mặt phẳng.

     

Chẩn đoán

        Các bác sĩ chẩn đoán rubella ở bệnh nhân nhi và người lớn dựa vào tiền sử và khám thực thể. Rubella không giống như bệnh sởi ở đặc trưng gây ra sưng hạch cổ sau và cổ trước, tai. Phát ban rubella cũng rất quan trọng để chẩn đoán cũng như tiền sử phơi nhiễm. Trẻ em có thể bị sốt nhẹ, một số buồn nôn và đỏ mắt. Phụ nữ mang thai cần được xét nghiệm máu về khả năng miễn dịch rubella vì nhiễm trùng trong thai kỳ nhằm giảm nguy cơ gây dị dạng và đe dọa đến tính mạng của thai nhi.

Điều trị

        Điều trị nhiễm trùng rubella ở người lớn, trẻ em và trẻ sơ sinh là chăm sóc hỗ trợ, chủ yếu là bù dịch và nghỉ ngơi. Đối với những người bị nhiễm bệnh, bao gồm cả trẻ sơ sinh, việc hạn chế tiếp xúc với người không miễn dịch được khuyến cáo trong một tuần. Chích ngừa rubella thường là sự kết hợp của vắc-xin 3 trong 1 bao gồm sởi, quai bị và rubella. Một liều cho 95% bệnh nhân miễn dịch suốt đời với nhiễm rubella.

     

Tiên lượng

        Người lớn và trẻ sơ sinh không bị nhiễm rubella thường bị bệnh nhẹ và thường hồi phục chưa đầy một tuần sau khi phát ban xuất hiện. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh trong ba tháng đầu tăng trưởng có nguy cơ nghiêm trọng và có thể bị hội chứng rubella bẩm sinh, bao gồm giảm thính lực (điếc trong nhiều trường hợp), khiếm khuyết tim và rối loạn tuyến giáp. Trước khi vắc-xin được phát triển vào những năm 1960, khoảng 0,5% trẻ sơ sinh được sinh ra trên toàn thế giới có mắc hội chứng rubella bẩm sinh ở nhiều mức độ khác nhau. Những dị tật bẩm sinh này thường không thể phục hồi.

Hội chứng bong vảy da do tụ cầu ở trẻ em

        Hầu hết thông tin y khoa ngày nay không đề cập đến bệnh Duke - hội chứng bong vảy da do tụ cầu, nguyên nhân là do nhiễm vi khuẩn tụ cầu và giải phóng độc tố vào máu người.

Biểu hiện

        Phát ban thường thấy ở trẻ sơ sinh và bắt đầu bằng sự xuất hiện đỏ xung quanh miệng, sau đó bao phủ phần lớn cơ thể trong vòng 2 ngày, khiến người mắc bệnh có cảm giác đau đớn. Tác động lực nhẹ với chuyển động từ bên này sang bên kia của tổn thương da dẫn đến sự dịch chuyển của các lớp da, lớp biểu bì từ lớp hạ bì, được các bác sĩ gọi là dấu hiệu Nikolsky dương tính. Thường các tổn thương trở thành mụn nước chứa đầy dịch bên trong. Các mụn nước sẽ vỡ và sau đó dẫn đến bong tróc. Trong vòng 7-10 ngày, da dần dần hồi phục và chữa lành mà không để lại sẹo lâu dài. Nhiễm khuẩn thứ cấp của các tổn thương có thể dẫn đến sẹo. Phát ban không bao giờ xuất hiện trên lớp niêm mạc.

Chẩn đoán

        Các bác sĩ chẩn đoán lâm sàng nhiễm trùng tụ cầu khuẩn trên da, thường dựa vào tiền sử và khám thực thể. Nếu cần thiết, cấy máu và sinh thiết da của các khu vực bị ảnh hưởng có thể giúp chẩn đoán xác định.

Điều trị

        Bệnh nhi cần được chăm sóc hỗ trợ và loại bỏ nhiễm trùng nguyên phát. Các biện pháp hỗ trợ bao gồm bù nước và thuốc hạ sốt. Điều trị kháng sinh bằng thuốc tiêm tĩnh mạch.

Tiên lượng

        Trẻ phục hồi tốt với sự chăm sóc hỗ trợ và thuốc kháng sinh. Hầu hết trẻ em sẽ hoàn toàn cải thiện tình trạng sức khoẻ tốt hơn trong vòng 10 ngày.