Thứ Ba, 23/12/2014
Thông báo dời địa chỉ trang web Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.....Tăng cường truyền thông phòng chống Cúm A và các bệnh lây qua đường tiếp xúc......Chương trình "Gặp gỡ các Chuyên gia" với đề tài các trường hợp khó trong bệnh lý tuyến yên......Bệnh nhân ghép tim từ người chết não đã hồi phục .....Lịch sinh hoạt khoa học tháng 07/2010 của Khoa Hồi sức Tích cực và Chống độc.....
Skip Navigation Links
Trang chủ
Skip Navigation Links
Giới thiệu Expand Giới thiệu
Tin tức - sự kiệnExpand Tin tức - sự kiện
Tin bài các khoa
Nghiên cứu khoa học
Thông báo
Skip Navigation Links
Bạn cần biết
 
Tin bài các khoa
Chẩn đoán và điều trị bệnh cúm
04/03/2010; 20:00

 

ThS. BS. Nguyễn Hoàng Thanh Phương

Phó Trưởng khoa Nội Hô hấp

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

 

 

1. Bệnh cúm là gì ?

Bệnh cúm (hay cúm) là một bệnh nhiễm trùng hô hấp (HH) cấp do nhiều chủng virus cúm gây ra. Khi cơ thể chúng ta hít phải virus cúm, sau đó virus cúm sẽ tấn công vào các tế bào (TB) của đường HH trên, gây ra các triệu chứng điển hình như mệt mỏi, sốt cao, ớn lạnh, ho khan và đau cơ toàn thân. Bệnh nhân (BN) cúm cũng dễ bị các nhiễm trùng thứ phát gây đe dọa cuộc sống. Dạ dày hay ruột có thể bị tổn thương, tuy nhiên virus cúm hiếm khi gây ra các triệu chứng ở đường tiêu hóa: ói, đau bụng, tiêu chảy như từng thấy khi nhiễm các loại vi sinh vật khác như Rotavirus, Salmonella, Shigella hoặc Escherichia coli.


Bệnh cúm khác với cảm lạnh thông thường, cảm lạnh thông thường là một bệnh nhẹ gây ra do nhiễm virus đường HH trên. Các triệu chứng thường bao gồm nghẹt mũi, ho, hắt hơi, đau họng và sốt nhẹ

 

2. Đặc điểm virus cúm:

Virus cúm thuộc nhóm Myxovirus influenzae có chứa nhân ARN. Có 3 loại týp của bệnh cúm khác nhau là A, B và C. Cúm týp A có thể nhiễm ở nhiều loài như người, heo, ngựa, chim, nhưng chỉ ở người mới bị nhiễm cúm týp B và C. Cúm týp A gây hầu hết các trường hợp cúm, trong khi đó cúm týp B và C ít gặp và có triệu chứng nhẹ hơn. Bề mặt virus cúm có chứa các glycoprotéines mang tính kháng nguyên: Hémagglutinines (H: H1-H15) và Neuraminidases (N: N1-N9). Ở người, người ta đã tìm thấy các virus cúm mang kháng nguyên H1, H2, H3 và N1, N2.



Bộ gen cúm A-H1N1/2009

(Ảnh: Tài liệu tập huấn cúm BV. Bệnh Nhiệt Đới)

 

Chúng ta từng trãi qua ba trận đại dịch cúm và những bài học về những trận đại dịch ấy vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay, trận đại dịch lần thứ nhất xảy ra vào năm 1918, còn gọi là cúm Tây Ban Nha (Spanish Flu) do virus cúm A-H1N1 gây tử vong đến 40 – 50 triệu người, do vào thời điểm đó người ta chưa biết nhiều về bệnh cúm, chưa có thuốc, cũng như thiếu kiến thức về điều trị và phòng ngừa bệnh cúm; trận đại dịch lần thứ hai xảy ra vào năm 1957 ở Châu Á (Asian Flu) do virus cúm A-H2N2 gây tử vong khoảng 1 triệu người và trận đại dịch lần thứ ba vào năm 1968 ở HongKong (HongKong Flu) do virus cúm A-H3N2 gây tử vong khoảng 1 triệu người. Những năm vừa qua, dịch cúm A-H5N1 do loại virus cúm chỉ gây bệnh ở gia cầm lây nhiễm sang người, tuy nhiên quá trình nhiễm virus cúm A-H5N1 từ người sang người không dễ dàng.


Gần đây nhất, xuất hiện dịch cúm A-H1N1/09 từ khoảng tháng 03/2009 phát hiện đầu tiên ở Mexico và Hoa Kỳ và nhanh chóng lan ra rất nhiều quốc gia khác nhau, kể cả Việt Nam. Cúm A-H1N1/09 là một loại virus cúm A-H1N1 gây ra, ban đầu người ta gọi dịch cúm này là cúm heo (swine influenza A-H1N1) đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sau đó đổi tên thành cúm A-H1N1/09, vì xảy ra vào năm 2009 và tên gọi cúm heo không chính xác, bởi trên thực tế chủng virus trên chứa ARN hỗn hợp của cả virus cúm gia cầm Bắc Mỹ (PA), virus cúm heo cổ điển (H1, NP, NS), virus cúm người H3N2 (PB1) và cả cúm gia cầm Âu Á.    

 

3. Cách lây truyền virus cúm:

Virus cúm lây truyền chủ yếu bằng ba đường: lây truyền qua đường đường giọt bắn (droplet), bản chất là giọt phân tử nước kích thước > 5mcm có tốc độ di chuyển từ 30-80 cm/giây và có khả năng bắn xa khoảng 1 mét; lây truyền qua đường tiếp xúc (contact) với các chất tiết và lây truyền qua đường không khí (airborn) khi làm các thủ thuật tạo hạt khí dung, những giọt phân tử kích thước < 5mcm có thể bốc hơi trong không khí tốc độ 0.06-1.5 cm/giây và có thể bắn xa trên 50 mét.


Những thủ thuật có thể tạo ra những hạt khí dung bao gồm đặt nội khí quản, khí dung thuốc và làm ẩm, nội soi phế quản, hút dịch ở đường thở, chăm sóc người bệnh mở khí quản, tập vật lý trị liệu lồng ngực, hút dịch mũi hầu, thông khí áp lực dương qua mặt nạ mặt (thở BiPAP, CPAP), thông khí tần số cao dao động và xét nghiệm giải phẫu bệnh nhu mô phổi sau tử vong.


Hiểu biết về cách lây truyền virus cúm có thể giúp chúng ta dùng các biện pháp phòng ngừa virus cúm đạt hiệu quả cho từng tình huống khác nhau trong thực hành lâm sàng.

 

4. Thời gian ủ bệnh:

Sau khi nhiễm virus cúm khoảng 1 - 4 ngày (trung bình 2 ngày), người bệnh sẽ đột ngột xuất hiện hàng loạt các triệu chứng cúm điển hình.

 

5. Triệu chứng lâm sàng:

Triệu chứng lâm sàng xảy ra rất đột ngột, nặng và thường theo trình tự không thể nhầm lẫn được. Ban đầu người bệnh khởi phát đau đầu, khô họng và ho khan. Sau đó nhanh chóng đau cơ toàn thân, sốt cao có thể đến 40oC. Khi sốt giảm dần, người bệnh chỉ còn nghẹt mũi, đau họng là chính. Người bệnh vẫn cảm thấy rất mệt và yếu, có thể chưa phục hồi sức khỏe trong vòng vài ngày, thậm chí đến 2 tuần.


Biến chứng cúm thường nặng lên do nhiễm trùng thứ phát, thường xuất hiện khi các triệu chứng cúm giảm, sốt cao xuất hiện trở lại kèm theo ớn lạnh, đau ngực, khó thở, ho đàm xanh, vàng đặc, viêm xoang, viêm tai, hay xảy ra ở các đối tượng là trẻ em, người cao tuổi, trong các trường hợp này cần phải tiến hành điều trị ngay. Hội chứng Reye là biến chứng hiếm gặp và rất nặng, người bệnh có biểu hiện buồn nôn, nôn, lú lẫn và mê sảng, do dùng aspirine để điều trị cúm.    


            Riêng đối với cúm A-H1N1/09. Trong 16 trường hợp nhiễm cúm A-H1N1 ở Mexico city, các triệu chứng toàn thân bao gồm sốt, rét run, đau đầu, mệt mỏi, kèm các triệu chứng hô hấp là ho, thở nhanh, khó thở, hội chứng suy hô hấp cấp, viêm phổi và các triệu chứng khác là đau cơ, khớp và đặc biệt có thêm các triệu chứng tiêu hóa là buồn nôn, đau bụng và tiêu chảy. Có 7 trường hợp tử vong. Theo thống kê của Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP. Hồ Chí Minh, các triệu chứng lâm sàng của cúm A-H1N1 bao gồm sốt, ho, chảy mũi, đau họng và tiêu chảy.


            Tuy nhiên, chúng ta có thể gặp các dạng lâm sàng khác nhau. Nhiều nhất là dạng không có triệu chứng (30-50%) thường thấy trong dịch tễ cúm mùa. Dạng cúm trẻ em, đối với trẻ dưới 1 tuổi thường không hoặc ít triệu chứng, hiếm khi xảy ra triệu chứng nhiễm trùng nặng, đối với trẻ từ 3-5 tuổi cũng ít triệu chứng và không đặc hiệu, trẻ có thể li bì, ngủ gà, triệu chứng tiêu hóa…Dạng cúm ở người cao tuổi, người bệnh có thể đau cơ, chảy mũi, ớn lạnh, đôi khi lú lẫn, mất nước, rối loạn tiêu hóa, mất bù tim mạch, nhiễm trùng thứ phát, rối loạn tâm thần kinh.  


            Các người bệnh hen không phải là cơ địa dễ nhiễm cúm. Tuy nhiên bệnh cúm có thể gây ra những đợt kịch phát hen cấp ở người bệnh hen. Trong mùa cúm, trẻ nhỏ bệnh hen sẽ nằm viện nhiều hơn, khám bệnh ngoại trú nhiều hơn và cũng dùng kháng sinh nhiều hơn. Gánh nặng của cúm ở trẻ lớn và người lớn bệnh hen còn chưa rõ ?


            Những cơ địa có nguy cơ cao của bệnh cúm bao gồm trẻ em dưới 5 tuổi; người lớn trên 65 tuổi; phụ nữ có thai, nguy cơ bị biến chứng phổi thường xảy ra từ 3 tháng giữa của thai kỳ, dễ bị sẩy thai, virus có thể xuyên qua hàng rào nhau thai; người suy giảm miễn dịch, viêm phổi hay xảy ra ở người ghép tạng, nhiễm HIV/AIDS; mập phì bệnh lý nhất có người có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 40; người có các bệnh lý mạn tính khác như bệnh tim mạch, hô hấp, huyết học, thần kinh, gan, thận, ung thư, biến dưỡng (đái tháo đường)…  

 

6. Tiến triển bệnh cúm:

Thông thường bệnh cúm là lành tính, thời gian hồi phục bệnh thường trong 5 ngày.


Dạng bệnh cúm có biến chứng bao gồm viêm phổi do virus nguyên phát (hội chứng suy hô hấp cấp), viêm phế nang xuất huyết do cúm A-H1N1, thường xảy ra ở người trẻ, không có yếu tố nguy cơ; viêm phổi do vi trùng thứ phát do biến chứng bệnh cúm, xảy ra từ ngày 5-7, thường ở các đối tượng nằm bệnh viện, ở những cơ địa đặc biệt, biểu hiện lâm sàng là sốt tái phát trở lại, ho khác đàm, kèm khó thở, procalcitonine tăng và có hình ảnh học bất thường; viêm phế quản cấp, đợt kịch phát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD); viêm tai giữa ở trẻ em có thể do bội nhiễm; viêm xoang và các biến chứng ngoài HH khác hiếm gặp như viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, thần kinh và viêm não màng não.

 

7. Chẩn đoán bệnh cúm:

Chẩn đoán bệnh cúm hiện nay chủ yếu dựa vào xuất hiện các triệu chứng cúm điển hình, sự có mặt của dịch cúm ở trong cộng đồng và các xét nghiệm đặc hiệu để xác định chủng virus cúm của các bệnh phẩm lấy từ đường HH.

 

8. Xét nghiệm:

Các xét nghiệm có thể thực hiện ở người bệnh cúm bao gồm công thức máu để đánh giá số lượng hồng cầu, bạch cầu (cả thành phần và số lượng tuyệt đối); chụp X-quang lồng ngực thẳng; đo SpO2; khí máu động mạch; đánh giá chức năng thận (BUN, creatinin) trong trường hợp suy thận (độ lọc cầu thận < 30ml/phút) phải điều chỉnh liều lượng thuốc kháng virus; đánh giá chức năng gan (SGOT, SGPT tăng cao trong bệnh cảnh nặng) và đo điện tâm đồ.


            Xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân bao gồm Real time RT-PCR, là xét nghiệm xác định týp virus cúm A, bệnh phẩm là dịch ngoái mũi, họng, dịch tỵ hầu, dịch phế quản lấy càng sớm càng tốt và nuôi cấy virus cúm ở những cơ sở y tế có điều kiện.


Chỉ định làm xét nghiệm RT PCR chỉ được áp dụng cho những tình huống bao gồm các người bệnh thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ bệnh cúm; các người bệnh có biểu hiện nặng, nghi ngờ biến chứng (viêm phổi); các trường hợp khó chẩn đoán, cần xác định để xử trí; các trường hợp cần theo dõi, nghiên cứu về biến chủng virus, kháng thuốc và các trường hợp đầu tiên ở một vị trí như trường học, xí nghiệp, nhà ở tập thể …để xác định ổ dịch.

 

9. Điều trị:

Các nguyên tắc điều trị bệnh cúm bao gồm nghỉ ngơi, bù nước và dinh dưỡng đầy đủ; thuốc giảm đau và hạ sốt (đặc biệt tránh dùng aspirine), giảm ho; dùng thuốc chống virus đặc hiệu; chỉ định kháng sinh khi có nhiễm trùng thứ phát; các biện pháp điều trị hỗ trợ khác như thở ôxy, thở máy điều trị suy hô hấp và dùng vaccin phòng bệnh.


Hướng dẫn tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh cúm của Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP. Hồ Chí Minh như sau:


            Chỉ định nhập viện cho người bệnh cúm xem xét phụ thuộc vào cơ địa và triệu chứng của người bệnh. Xem xét về cơ địa, chỉ định cho nhập viện bao gồm trẻ em dưới 5 tuổi; người lớn trên 65 tuổi; phụ nữ có thai; người bệnh có bệnh mạn tính phổi, tim, gan thận, huyết học, thần kinh, biến dưỡng (đái tháo đường), ung thư…; người suy giảm miễn dịch và người mập phì. Xem xét về triệu chứng, chỉ định cho nhập viện bao gồm người có khó thở hay đau ngực (xem nhịp thở, SpO2); người có sốt kéo dài hơn 3 ngày, không thuyên giảm dù có dùng thuốc hạ sốt, giảm đau (Paracetamol); người bị ói nhiều, không uống được; người bị chóng mặt khi đứng dậy, tiểu ít (xem mạch, huyết áp); người có biểu hiện lừ đừ, trẻ em có co giật; triệu chứng cúm giảm bớt sau đó xuất hiện trở lại và nặng nề hơn.


            Người bệnh cúm có thể đến khám bệnh ở Y tế Phường Xã/Phòng khám bệnh, nếu những nơi này không có chỉ định làm RT-PCR thì có thể cho thực hiện công thức máu, chụp X-quang lồng ngực thẳng và kê đơn thuốc hạ nhiệt, vitamin C…Nếu có chỉ định làm RT-PCR thì cho thực hiện ở Viện Pasteur, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới đối với người lớn và ở BV Nhi Đồng 1, BV Nhi Đồng 2 đối với trẻ em.  


            Tại TP. Hồ Chí Minh, những người bệnh cúm có chỉ định nhập viện hiện nay được quy định phân tuyến điều trị theo phân độ nặng, nhẹ tại các bệnh viện có cơ sở cách ly đúng tiêu chuẩn, được Sở Y tế kiểm tra xác định để tránh lây lan cho những người bệnh khác. Bệnh viện Quận Huyện nhận điều trị người bệnh (+) nhẹ, không khó thở, có SpO2 > 92%, tổn thương 1 bên phổi. Các bệnh viện đa khoa tuyến Thành phố có cơ sở cách ly đúng tiêu chuẩn như Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định…nhận điều trị người bệnh (+) trung bình, có SpO2 từ 88 - 92%, có tổn thương phổi 2 bên. Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện 115, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhi Đồng 2 là các bệnh viện tuyến sau cùng nhận điều trị người bệnh (+) nặng. Các Bệnh viện trực thuộc trung ương như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện 175 cho người bệnh đúng đối tượng. Ngoài ra một số bệnh viện tư nhân cũng có thể được quy định cho thu dung điều trị cúm như Bệnh viện Hoàn Mỹ, Bệnh viện FV, Bệnh viện An Sinh, Bệnh viện Vũ Anh…


            Trong những trường hợp có biến chứng nhiễm trùng phải xem xét điều trị kháng sinh. Có thể dùng Amoxicilline 1gr x 3 lần/ngày, ở người lớn hoặc Amoxiclav nếu nghi nhiễm staphylococcus, 1gr x 3 lần/ngày, ở người lớn. Nếu BN dị ứng với bêtalactames có thể dùng Pristinamycine, Cefpodoxime, Proxetil, Levofloxacine, ở người lớn. Khi cần tiêm có thể dùng Ceftriaxone 1-2gr/ngày.


Hiện nay, có 2 loại thuốc kháng virus đặc hiệu là Oseltamivir (Tamiflu) và Zanamivir (Relenza):


a. Điều trị Oseltamivir (Tamiflu):

Chỉ định dùng Oseltamivir cho các người bệnh (+) trong bệnh viện và người bệnh có triệu chứng trong ổ dịch (đã xác định) không cần kiểm tra RT- PCR. Không dùng uống phòng ngừa (tiếp xúc, nhân viên y tế). Thời gian điều trị Oseltamivir là 5 ngày, nếu RT-PCR vẫn (+) cho điều trị thêm đến 10 ngày, nếu sau 10 ngày RT-PCR vẫn (+) thì điều trị đến 14 ngày, nếu sau 14 ngày RT-PCR vẫn (+) thì chuyển dùng Zanamivir (Relenza). Thực hiện kiểm tra RT-PCR vào những ngày thứ 4, thứ 6, thứ 10, thứ 14 của điều trị kháng virus. Oseltamivir có tác dụng ức chế men neuraminidase (NA inhibitor) bằng cách tranh chấp phản ứng tách liên kết sialic acid. Oseltamivir phosphate vào cơ thể chuyển thành Oseltamivie carboxylate nhờ men carboxylase, có độ sinh khả dụng 80%, Tmax = 3-4 giờ, thời gian bán hủy 7 – 8 giờ và thải qua thận, giảm do probenecid (ống thận). Các tác dụng phụ của Oseltamivir bao gồm buồn nôn, khó chịu, nổi mẫn đỏ, rối loạn chức năng gan, giảm tiểu cầu, rối loạn nhân cách, co giật, ảo giác, sảng, dẫn đến tổn thương do tai nạn.


Liều lượng và cách dùng Oseltamivir cho người lớn và trẻ em như sau:



(Nguồn: Tài liệu tập huấn cúm BV. Bệnh Nhiệt Đới)

Phải điều chỉnh liều lượng Oseltamivir khi có biểu hiện suy thận (khi độ thanh lọc cầu thận < 30 ml/phút). Đối với người lớn > 15 tuổi, công thức tính độ thanh lọc cầu thận như sau (140 – tuổi) x cân nặng(kg)/72 x creatinin (mg/dL). Đối với trẻ em dưới 15 tuổi, công thức tính độ thanh lọc cầu thận là K x chiều cao(cm)/creatinin (mg/dL) (chú ý từ trẻ em từ 1-13 tuổi, lấy K bằng 0.55 và trẻ em từ 13-15 tuổi lấy K bằng 0.7).

           

Hiệu lực và hiệu quả điều trị của Oseltamivir là giúp giảm triệu chứng: giảm thời gian để lành bệnh 1 -1.5 ngày, giảm biến chứng 50%; giúp làm giảm thời gian thải virus; còn giảm tử vong hay không thì không rõ?

 

b. Điều trị Zanamivir (Relenza):

Zanamivir là nhóm thuốc ức chế NA, dạng bột, hít vào trực tiếp phổi, có ái lực gấp 1000 IC50 với NA, thời gian tác dụng rất nhanh chỉ sau 10 giây, thời gian bán hủy 2.5 – 5 giờ. Chỉ được chỉ định dùng cho người bệnh trên 7 tuổi. Liều dùng ngày 2 lần hít 5 mg. Tác dụng phụ của Zanamivir có thể bao gồm nguy cơ co thắt thanh quản; loạn nhịp tim, ngất; co giật và sốc phản vệ.



Sơ đồ điều trị ôxy trong bệnh cúm A-H1N1 có biểu hiện suy hô hấp

(Nguồn: Tài liệu tập huấn cúm BV. Bệnh Nhiệt Đới)


Thông khí nhân tạo xâm nhập (đặt nội khí quản, thở máy) được chỉ định trong các tình huống sau: biện pháp không xâm nhập thất bại sau 30 phút; người bệnh có rối loạn ý thức, ứ đọng đàm; mạch > 130 lần/phút, huyết áp < 90 mmHg, nhịp thở < 10 lần/phút; có biểu hiện toan máu. Các thông số cài đặt thông thường bao gồm: FiO2 = 100%, điều chỉnh theo SpO2, PaO2; Vt = 6 ml/kg, tần số thở = 16-20 lần/phút (trẻ sơ sinh: 40-60 lần/phút; trẻ nhủ nhi: 30 lần/phút; trẻ lớn: 20 lần/phút); PEEP = + 5 cm H2O; áp lực cao nguyên đường thở > 30 cmH2O.


Cần thiết phải đặt nội khí quản sớm; kiểu thở không xâm lấn (NIV) không tốt lắm vì có thể tạo khí dung, kiểu thở ALI cho người bệnh có hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) hay tổn thương đa thùy, kiểu thở HFO có thể có tác dụng, ECMO?


Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác bao gồm: Corticoides, chưa chứng minh tác dụng và có nguy cơ làm virus phát triển mạnh và lọc máu (HF), cũng chưa có bằng chứng tác dụng trong những bệnh nhiễm trùng nặng.


Tiêu chuẩn cho người bệnh cúm ra viện bao gồm: Đối với người bệnh trước đó không thực hiện có RT- PCR tiêu chuẩn ra viện là hết sốt > 3 ngày, còn đối với người bệnh trước đó có thực hiện RT-PCR tiêu chuẩn ra viện là hết sốt > 3 ngày + RT-PCR âm tính N4, N6…

    

10. Tiên lượng:

Nếu điều trị thích hợp, những người dưới 65 tuổi thường không bị các hậu quả lâu dài do bị cúm. Người cao tuổi và mắc bệnh mạn tính thường có nguy cơ cao bị nhiễm trùng thứ phát và biến chứng khác, nhưng cũng có thể phục hồi hoàn toàn. Hầu hết mọi người phục hồi hoàn toàn khi nhiễm virus cúm. Bệnh cúm là 1 bệnh nghiêm trọng và đã chứng minh được có khoảng 1/1.000 trường hợp tử vong do cúm.

 

11. Phòng ngừa bệnh cúm:

a. Phòng ngừa lây truyền qua đường giọt bắn:

Nếu xếp chung với bệnh nhân khác phải giữ một khoảng cách xa thích hợp (trên 1 mét); mang khẩu trang ngoại khoa, nhất là với những thao tác cần tiếp xúc gần với bệnh nhân và hạn chế tối đa vận chuyển bệnh nhân, phải đeo khẩu trang cho bệnh nhân.

 

b. Phòng ngừa lây truyền qua đường tiếp xúc:

Mang găng khi vào phòng; tháo găng trước khi ra khỏi phòng và rửa tay; mang áo choàng và bao chân trước khi vào phòng, cởi ra trước khi ra khỏi phòng; hạn chế tối đa vận chuyển bệnh nhân; làm sạch và tiệt khuẩn dụng cụ.

 

c. Phòng ngừa lây truyền qua đường không khí:

Thông khí và xử lý không khí trong phòng bệnh (thiết kế luồng áp lực khí âm, 6 đến 12 luồng khí/1 giờ, có hệ thống lọc và thải khí); đeo khẩu trang hô hấp (N95) khi đi vào phòng bệnh; hạn chế tối đa việc vận chuyển bệnh nhân, phải đeo khẩu trang cho bệnh nhân.

 

d. Cẩn trọng về vệ sinh hô hấp tại tất cả các cơ sở y tế:

Tất cả người bệnh có triệu chứng về đường hô hấp cần phải được giáo dục phải che miệng mũi bằng khăn giấy và bỏ khăn giấy trong thùng rác; dùng khẩu trang; rửa tay thường xuyên sau khi tiếp xúc với chất tiết; đứng hay ngồi cách xa người khác khoảng 1 mét.

 

e. Các biện pháp phòng bệnh chung bao gồm:

Trong vùng có dịch phải đeo khẩu trang; tăng cường rửa tay; vệ sinh cá nhân, súc miệng - họng bằng các thuốc sát khuẩn; tránh tập trung đông người khi có dịch xảy ra.

 

f. Vaccin phòng bệnh cúm:

CDC khuyến cáo tiêm vaccin hàng năm trước mùa cúm bắt đầu. Nên tiêm vaccin 2-6 tuần trước, để có đủ thời gian tạo miễn dịch. Người lớn chỉ cần 1 liều vaccin hàng năm, nhưng trẻ em dưới 9 tuổi nên tiêm 2 liều cách nhau 1 tháng. Vaccin mỗi mùa cúm gồm 3 chủng virus có khả năng dễ gặp nhất trong mùa cúm tới. Chủng virus dùng làm vaccin ở dạng bất hoạt, không gây bệnh. Tác dụng phụ nghiêm trọng của vaccin hiện nay rất hiếm chỉ đau nhẹ tại nơi tiêm, sẽ hết đau trong 1-2 ngày; người chưa tiếp xúc virus cúm, đặc biệt trẻ em, có thể sốt nhẹ 1-2 ngày, mệt mỏi và đau cơ. Những triệu chứng này bắt đầu trong vòng 6-12 giờ sau tiêm vaccin.


Lưu ý là một vài người không nên tiêm vaccin cúm. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi có hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh và không có lợi khi tiêm vaccin. Từ khi vaccin là chế phẩm từ trứng gà, người bị dị ứng nặng với trứng hoặc các thành phần khác của vaccin thì không nên tiêm vaccin cúm, biện pháp thay thế là dùng một liệu trình amantadin hoặc rimantadin để bảo vệ chống lại virus cúm. Những người khác có thể dùng thuốc mà thuốc này đã có khả chữa được sau khi mùa cúm bắt đầu hoặc người suy giảm miễn dịch, như những bệnh nhân  HIV giai đoạn cuối, trường hợp này amantadin và rimantadin có hiệu quả 70-90% trong việc phòng cúm.


Người khỏe cũng nên dùng vaccin vì có thể bị các biến chứng do cúm: những người trên 65 tuổi; người điều trị nội trú tại các bệnh viện và dễ mắc bệnh mạn tính, cho mọi lứa tuổi; người lớn và trẻ em bị bệnh tim phổi mạn tính, như bệnh hen, COPD; người lớn và trẻ em bị bệnh chuyển hóa mạn tính (đái tháo đường), rối loạn chức năng thận, thiếu máu nặng, bệnh về máu bẩm sinh; trẻ em và vị thành niên điều trị liệu pháp aspirin dài ngày; Phụ nữ có thai từ 3 tháng giữa, phụ nữ đang chăm sóc người bệnh; người suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV/AIDS, ung thư, ghép tạng, dùng steroid, hóa trị, xạ trị; người nào tiếp xúc với các nhóm trên, như giáo viên, nhân viên chăm sóc, nhân viên y tế và các thành viên trong gia đình; đi du lịch nước ngoài. Tuy nhiên, người không phải nhóm nguy cơ trên cũng nên tiêm vaccin. Bất kỳ người nào muốn thoát khỏi sự lo lắng và phiền phức khỏi sự tấn công của virus cúm thì có thể tiêm vaccin.

 

Tài liệu tham khảo:


1. Trần Tịnh Hiền. Kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị cúm A-H1N1/09. Tài liệu tập huấn cúm của Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới và Bộ Y tế 2009.

2. Đinh Nguyễn Huy Mẫn. Phòng ngừa lây nhiễm virus cúm trong bệnh viện. Tài liệu tập huấn cúm của Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới và Bộ Y tế 2009.

3. Nguyễn Văn Vĩnh Châu. Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm Influenza A/H1N1(2009). Tài liệu tập huấn cúm của Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới và Bộ Y tế 2009.

4. Fiore A.E. Seasonal influenza and asthma. National Center for Immunization and Respiratory Diseases, Center for Disease Control and Prevention (CDC) 2006.

5. Bệnh cúm. Data on file: http://www.cimsi.org.vn.

6. Dupon M. La grippe. Data on file: http://www.respir.com.

7. WHO guidelines for Pharmacological Management of Pandemic (H1N1) 2009 Influenza and other Influenza viruses, 20 August 2009.

 

Đầu trang   Trở về
nhataitro.jpg 
nhataitro.jpg
nhataitro.jpg
Lượt truy cập
6257
Copyright @2009 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Thiết kế & Xây dựng Công ty Tin Học Kỹ năng