ÁP XE CƠ THẮT LƯNG - CHẬU (CƠ PSOAS)

Áp xe cơ thắt lưng chậu (psoas) có tỷ lệ tử vong cao nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Đây là cơ nằm sâu trong cơ thể nên có thể chẩn đoán muộn hoặc nhầm lẫn với những bệnh học khác

Tổng quan

Áp xe cơ thắt lưng chậu (psoas) có tỷ lệ tử vong cao nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Đây là cơ nằm sâu trong cơ thể nên có thể chẩn đoán muộn hoặc nhầm lẫn với những bệnh học khác

Giải phẫu

Khoang sau phúc mạc có chứa các cơ thắt lưng và nhóm nhỏ cơ chậu. Các cơ đi từ đốt sống ngực 12 đến đốt sống thắt lưng 5, đi qua sau dây chằng bẹn và trước khớp háng xuống dưới.

Áp xe có thể nguyên phát (nguồn gốc từ đường máu hoặc bạch huyết) hoặc thứ phát (lan từ ổ nhiễm trùng lân cận).

Dịch tễ

Tỷ lệ mắc bệnh
Tỷ lệ mắc bệnh tăng lên nhiều ở cơ địa suy giảm miễn dịch: HIV/AIDS, tiểu đường, tuổi già, phụ thuộc corticoid…

Ngày nay với phương tiện hình ảnh phát triển đã giúp chẩn đoán bệnh lý này tốt hơn.
Áp-xe nguyên phát (ở viêm xuất hiện từ tại chỗ từ cơ thắt lưng chậu) chiếm khoảng 1/3 các trường hợp; hầu hết là ở các nước đang phát triển. Áp xe nguyên phát dễ mắc hơn ở trẻ sơ sinh và có liên quan đến vi khuẩn

Áp-xe thứ phát tần suất cao hơn, thường gặp ở người cao tuổi và liên quan đến các bệnh lão khoa (ví dụ: viêm túi thừa, nhiễm trùng đường tiết niệu) khiến áp xe lan vào cơ thắt lưng chậu

Nguyên nhân và bệnh học khái quát.

Áp xe psoas nguyên phát là kết quả của sự lây lan theo đường máu hoặc bạch huyết của nhiễm trùng từ một ổ nhiễm trùng xa. Các tác nhân thường gặp nhất là vi khuẩn, lao…

Yếu tố nguy cơ

Suy giảm miễn dịch: tiểu đường, HIV/ AIDS, bệnh thận mạn, dùng corticoid kéo dài.

Nhiễm trùng xương, nhiễm trùng trong ổ bụng, phẫu thuật vùng bụng và lưng

Chẩn đoán

Chẩn đoán thường khó. Chụp CT là phương tiện hình ảnh thường được chỉ định.

Chẩn đoán xác định qua dịch lấy từ ổ áp xe có hướng dẫn bằng siêu âm hoặc CT sau đó nuôi cấy. Tác nhân gây bệnh được phân lập trong khoảng 75% trường hợp.

áp xe cơ thắt lưng chậu

Triệu chứng

Các triệu chứng thường không đặc hiệu.

  • Sốt, đau vùng sườn- hông lưng, đau bụng.
  • Hơn 50% trường hợp biểu hiện đau và 25–75% sốt nhẹ.
  • Đau có thể lan đến bụng trước và đùi.
  • Buồn nôn, chán ăn, khó chịu, sụt cân và hạch bẹn.
  • Ở trẻ sơ sinh có thể phù chân hoặc bẹn, hạn chế cử động chân, đau và sốt.

Xét nghiệm và chỉ định hình ảnh học.

  • Xét nghiệm máu có thể tăng bạch cầu và các chỉ điểm viêm.
  • Siêu âm là phương tiện hình ảnh ban đầu được chỉ định nếu nghi ngờ áp xe ở trẻ em hoặc sơ sinh. MRI có thể được chỉ định cho phụ nữ mang thai.
  • CT có tiêm thuốc tương phản là phương tiện hình ảnh được chỉ định thông dụng hơn vì độ nhạy cao và thời gian chụp ngắn hơn so với MRI.
  • Nuôi cấy dịch áp xe xác định chẩn đoán và hướng dẫn điều trị kháng sinh đồ.
  • Nhuộm AFB và cấy vi khuẩn nếu nghi ngờ lao

Điều trị

  • Hầu hết các trường hợp cần chọc hút dịch áp xe qua hướng dẫn siêu âm hoặc CT, hoặc phẫu thuật mở dẫn lưu. Vì đây là cơ nằm sâu trong cơ thể nên phải can thiệp bởi BS có kinh nghiệm
  • Truyền kháng sinh đường tĩnh mạch (16–20% thành công chỉ với kháng sinh).
  • Dẫn lưu sau phẫu thuật hở được chỉ định cho các ổ áp xe lớn, phức tạp hoặc nhiều ổ, sự liên quan đáng kể của các cấu trúc lân cận, hoặc nếu chọc dẫn lưu qua siêu âm hoặc CT thất bại.
  • Chọc hút qua hướng dẫn phương tiện hình ảnh là một phương pháp thay thế cho dẫn lưu phẫu thuật cho áp xe psoas ở trẻ sơ sinh và trẻ em.

Mặc dù hầu hết áp xe cần dẫn lưu, một số ổ có kích thước nhỏ (≤3 cm) có thể kiểm soát được bằng thuốc kháng sinh. Sau phẫu thuật dẫn lưu, điều trị lao theo hướng dẫn nếu tác nhân là lao.

Theo dõi

Hầu hết bệnh nhân cần điều trị kháng sinh từ 3 đến 6 tuần. Đối với lao cần điều trị từ 9 đến 12 tháng.

Theo dõi bằng hình ảnh để xem mức độ đáp ứng với điều trị

Tiên lượng

Vì chẩn đoán rất khó nên bệnh nhân cần nhập viện nếu có các triệu chứng trên để chẩn đoán sớm và can thiệp sớm thì kết quả tiên lượng mới tốt hơn. Sự chậm trễ trong chẩn đoán gây ra các biến chứng nặng nề như sốc nhiễm trùng và tử vong.

Tỷ lệ tử vong ở người lớn được điều trị là khoảng 5%. Các trường hợp không được điều trị có tỷ lệ tử vong khoảng 100%.

Tỷ lệ tử vong gia tăng khi tuổi cao, bệnh nội khoa đi kèm, chẩn đoán muộn, nhiễm trùng huyết…

Trẻ có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời

Biến chứng

Khoảng 40% bệnh nhân cần nhiều hơn 1 lần thủ thuật dẫn lưu để hồi phục hoàn toàn. Dẫn lưu không hoàn toàn hoặc điều trị kháng sinh không tối ưu có thể dẫn đến tái phát.

Chèn ép tủy là biến chứng do sự lan rộng của áp xe. Hầu hết các trường hợp tái phát xảy ra trong vòng 6 tháng điều trị; có thể xảy ra hơn một năm sau khi điều trị.