Bác sĩ thường sử dụng các loại dao mổ nhỏ, mỏng sắc bén và các dụng cụ hỗ trợ mổ khác trong quá trình phẫu thuật. Phẫu thuật thường yêu cầu phải cắt xuyên qua da, cơ và đôi khi là xương. Sau phẫu thuật, những vết mổ này có thể gây đau và cần thời gian để hồi phục.
.png)
Có 3 loại gây mê được sử dụng trong phẫu thuật:
Ngoài ra còn có các biện pháp phẫu thuật khác không sử dụng dao mổ. Bao gồm:
Cryosurgery là loại phẫu thuật trong đó các chất làm lạnh như nitơ lỏng hoặc khí argon được sử dụng để phá hủy các mô bất thường. Phẫu thuật lạnh có thể được sử dụng để điều trị ung thư da giai đoạn sớm, ung thư võng mạc và tổn thương tiền ung thư trên da và cổ tử cung. Phẫu thuật lạnh còn được gọi là cryotherapy.
Đây là loại phẫu thuật sử dụng chùm ánh sáng cường độ mạnh để cắt xuyên qua mô. Laser có thể tập trung rất chính xác trên các khu vực nhỏ, vì vậy có thể được sử dụng cho các ca phẫu thuật yêu cầu chính xác cao. Laser cũng có thể được sử dụng để thu nhỏ hoặc tiêu diệt các khối u hoặc các tổn thương tiền ung thư.
Laser thường được sử dụng để điều trị các khối u trên bề mặt của cơ thể hoặc trên lớp lót thành bên trong của các cơ quan nội tạng. Ví dụ như ung thư biểu mô tế bào đáy, tổn thương cổ tử cung có thể tiến triển thành ung thư, ung thư cổ tử cung, âm đạo, thực quản và ung thư phổi tế bào không nhỏ.
Tăng thân nhiệt là một phương pháp điều trị trong đó các vùng mô nhỏ trên cơ thể được cho tiếp xúc với nhiệt độ cao. Nhiệt độ cao có thể làm tổn thương và tiêu diệt các tế bào ung thư hoặc làm cho chúng trở nên nhạy cảm hơn với quá trình xạ trị và hóa trị. Đốt nhiệt sóng cao tần (Radiofrequency ablation) là một biện pháp tăng thân nhiệt bằng cách sử dụng sóng vô tuyến năng lượng cao để tạo ra nhiệt. Tăng thân nhiệt hiện không được sử dụng rộng rãi và đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.
Quang động học dựa trên tương tác quang hóa của ba thành phần: ánh sáng, một dược liệu nhạy quang và ôxy. Một loại thuốc phản ứng với một loại ánh sáng nhất định được sử dụng. Khi khối u tiếp xúc với ánh sáng này, thuốc sẽ trở nên hoạt động và tiêu diệt các tế bào ung thư gần đó. Quang động học được sử dụng phổ biến để điều trị hoặc làm giảm các triệu chứng do ung thư da và ung thư phổi tế bào không nhỏ.
Có nhiều phương pháp phẫu thuật. Phương pháp được lựa chọn phụ thuộc vào mục đích phẫu thuật, vị trí phẫu thuật, khối lượng mô cần được loại bỏ, và trong một số trường hợp phụ thuộc vào lựa chọn của bệnh nhân.
Phẫu thuật có thể mổ mở hoặc can thiệp xâm lấn tối thiểu.
Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu có nội soi hỗ trợ có vết mổ nhỏ hơn, cần ít thời gian để hồi phục hơn so với phẫu thuật mổ mở..
.png)
Nhiều người bị ung thư được điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật hiệu quả tốt nhất với các khối u cấu trúc rắn nằm cố định trong một khu vực nào đó. Nó được coi là một can thiệp tại chỗ, có nghĩa là chỉ can thiệp tại một phần cơ thể có khối u. Phẫu thuật không được sử dụng trong điều trị bệnh bạch cầu (một loại ung thư máu) hoặc cho bệnh nhân ung thư đã di căn xa.
Đôi khi phẫu thuật sẽ là giải pháp điều trị duy nhất bạn cần. Nhưng trong nhiều trường hợp, phẫu thuật được kết hợp với một vài phương pháp. điều trị khác để mang lại hiệu quả cao nhất.
Tùy thuộc vào loại ung thư và mức độ tiến triển, phẫu thuật có thể được sử dụng để:
Bác sĩ phẫu thuật là những người được đào tạo bài bản và sẽ luôn tuân thủ các qui trình phẫu thuật để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra. Mặc dù vậy, đôi khi rủi ro vẫn xảy ra, một số vấn đề thường gặp bao gồm:
Sau khi phẫu thuật, hầu hết mọi bệnh nhân sẽ bị đau ở phần cơ thể được phẫu thuật. Mức độ đau phụ thuộc vào loại phẫu thuật, vị trí cơ thể phẫu thuật.
Bác sĩ hoặc y tá của bạn có thể giúp bạn kiểm soát cơn đau sau khi phẫu thuật. Các biện pháp y tế có thể giúp bạn kiểm soát cơn đau sau phẫu thuật, hãy thông báo cho bác sĩ nếu thấy cơn đau không được kiểm soát.
Nhiễm trùng là một vấn đề khác có thể xảy ra sau phẫu thuật. Để phòng chống nhiễm trùng, hãy tuân theo hướng dẫn của bác sĩ về việc chăm sóc vị trí đã phẫu thuật. Nếu bạn bị nhiễm trùng, bác sĩ có thể kê đơn thuốc bao gồm kháng sinh để điều trị.
Các nguy cơ khác của phẫu thuật bao gồm chảy máu, tổn thương các mô cơ quan gần vị trí phẫu thuật và sốc thuốc gây mê.
.png)
Chi phí phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm:
Trước phẫu thuật
Bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng và chỉ định một số xét nghiệm cần thiết trước phẫu thuật. Các xét nghiệm thường bao gồm:
Bác sĩ có thể yêu cầu bạn không ăn hoặc uống trong một khoảng thời gian nhất định trước phẫu thuật. Điều quan trọng là tuân thủ các hướng dẫn về ăn uống, nếu không phẫu thuật có thể bị lùi lại.
Quá trình phẫu thuật
Sau khi được gây mê, bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ mô ung thư, thường kèm theo một số mô khỏe mạnh xung quanh. Loại bỏ các mô khỏe mạnh này cũng có ý nghĩa trong điều trị.
Những mô này sẽ được kiểm tra dưới kính hiển vi để xem tình trạng di căn hiện tại. Xác định các mô lân cận khối u có ung thư hay không sẽ giúp bác sĩ đưa phương án điều trị tốt nhất cho bạn sau phẫu thuật.
Sau phẫu thuật bác sĩ sẽ hướng dẫn chi tiết những lưu ý tại nhà, bao gồm:
Bạn sẽ cần tái khám bác sĩ ít nhất một lần sau một hoặc hai tuần ra viện. Đối với các phẫu thuật phức tạp, số lần tái khám sẽ nhiều hơn. Bạn có thể được cắt chỉ, và bác sĩ sẽ kiểm tra quá trình hồi phục vết mổ.
.png)
Phẫu thuật làm tăng yêu cầu bổ sung dinh dưỡng. Tùy vào tình trạng dinh dưỡng thực tế của bạn, bác sĩ có thể chỉ định một chế độ ăn giàu protein, có năng lượng khẩu phần cao trước phẫu thuật.
Phẫu thuật cũng có thể ảnh hưởng đến việc ăn uống nếu vị trí phẫu thuật tại miệng, dạ dày, ruột hoặc cổ họng. Bạn cũng có thể được cung cấp dinh dưỡng qua ống thông hoặc qua đường tĩnh mạch.
Bạn cần phải dành thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sau phẫu thuật. Bác sĩ sẽ trao đổi với bạn về thời gian hồi phục và các yếu tố nguy cơ trong giai đoạn này. Thời gian hồi phục phụ thuộc vào các yếu tố như:
Nguồn: Viện y học ứng dụng Việt Nam
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh