✴️ Nấm móng (onychomycosis)

Nội dung

I. ĐẠI CƯƠNG

Là bệnh viêm móng thường gặp, tiến triển âm thầm, mãn tính. Bệnh do nhiều chủng nấm gây nên và có thương tổn lâm sàng đa dạng. Việc chẩn đoán dựa vào biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm tìm nấm .

 

II. CHẨN ĐOÁN

a) Lâm sàng: tùy từng vị trí thâm nhập của vi nấm mà biểu hiện lâm sàng khác nhau.

* Thường gặp nhất là tổn thương ở phần bên và phần xa dưới móng

-  Tăng sừng hóa dưới móng tiến triển tăng dần theo trục của móng làm phá hủy móng. Móng trở nên đục, trắng và mủn.

-  Xen kẽ với các những vùng sừng hóa là những vùng tách móng, là nơi cư trú của nấm sợi.

-  Màu sắc của móng thay đổi: trắng, vàng cam.

* Tổn thương ở bề mặt móng: Trên bề mặt móng có đốm hoặc khía trắng

-  Là dạng đặc trưng của nhiễm dermatophyte do Trichophyton mentagrophytes hoặc Trichophyton rubrum. Ngoài ra, có thể gặp một số chủng nấm mốc.

-  Bệnh hay gặp ở móng chân hơn ở móng tay

-  Thể này thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch (ghép tạng, dùng liệu pháp corticoid toàn thân...), tổn thương có xu hướng lan tỏa và nhiều móng bị tổn thương.

* Tổn thương ở gốc móng và viêm quanh móng:

-  Viêm nếp da phía gốc móng và nhất là nếp gấp sau.

-  Bản móng xuất hiện các đường rãnh ngắn, gần nhau, song song, sắp xếp dọc theo một dải nâu. Sau một thời gian tiến triển mạn tính xen kẽ những đợt cấp tính, tổn thương ngày càng nặng và gây rối loạn phát triển móng và teo móng.

-  Nguyên nhân thường gặp là Candida spp., vi khuẩn (thường là gram âm).

* Loạn dưỡng toàn móng:Toàn bộ móng bị tiêu hủy do hậu quả tiến triển lâu ngày của ba dạng nhiễm nấm trên.

b) Cận lâm sàng:

-  Soi trực tiếp: tất cả các trường hợp nghi nhiễm nấm móng nên được làm xét nghiệm trực tiếp tìm nấm, có thể quan sát sợi nấm và/ hoặc tế bào nấm men.

-  Nuôi cấy trên môi trường Sabouraud có chloramphenicol.

 

III.  ĐIỀU TRỊ

a) Thuốc bôi tại chỗ

-  Ciclopiroxolamin dạng dung dịch 8%: bôi hàng ngày đến khi khỏi.

-   Amorolfin (loceryl) 5%: bôi 1 tuần 1 lần.

-   Nếu móng chân còn tốt, chỉ có ít thương tổn ở bờ ngoài hoặc viêm quanh móng nhẹ 1-2 móng, có thể sử dụng thuốc sát khuẩn và kem bôi chống nấm.

-   Nếu thương tổn nhiều móng hoặc viêm từ 3 móng trở nên thì kết hợp bôi và uống thuốc chống nấm.

b) Thuốc uống:

-  Fluconazol: 150-200 mg/tuần × 9 tháng.

-  Griseofulvin: 1-2 g/ngày cho tới khi móng trở nên bình thường.

-   Itraconazol: 200 mg/ngày × 12 tuần hoặc 200 mg x 2 lần/ngày × 1tuần/tháng trong 23 tháng.

-   Terbinafin: 250 mg/ngày × 12 tuần hoặc 250 mg/ngày x 4 tuần, nghỉ 4 tuần, điều trị tiếp 4 tuần.

-   Các thuốc trên không nên chỉ định đối với phụ nữ có thai và cho con bú.

-   Đối với nấm móng trẻ em, dùng một trong các thuốc sau:

  • Fluconazol: 6 mg/kg/tuần × 12-16 tuần (móng tay) hoặc 18-26 tuần (móng chân).
  • Griseofulvin: 20 mg/kg/ngày cho tới khi móng trở về bình thường.
  • Itraconazol: 5 mg/kg/ngày (<20 kg), 100 mg/ngày (20-40 kg), 200 mg/ngày (40-50 kg), hoặc 200 mg x 2 lần/ngày (>50 kg) × 1 tuần/tháng trong 2 tháng liên tiếp (móng tay) hoặc 3 tháng liên tiếp (móng chân).
  • Terbinafin: 62,5 mg/ngày (<20 kg), 125 mg/ngày (20–40 kg) hoặc 250 mg/ngày (>40 kg) × 6 tuần (móng tay) hoặc 12 tuần (móng chân)

c) Điều trị hỗ trợ

-      Bào mòn móng.

-      Loại bỏ móng bằng phẫu thuật, đắp ure 40%.

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top