Bệnh Crohn là một bệnh được đặc trưng bởi tình trạng viêm mãn tính của đường ruột. Nó có thể gây ra những vết viêm loét ở bất cứ nơi nào trong ống tiêu hóa từ miệng đến hậu môn, nhưng đa phần chủ yếu tập trung ở ruột non và ruột già.
Căn bệnh này còn có thể gây chậm tăng trưởng và yếu xương ở trẻ lứa tuổi dậy thì.
.png)
Đối với những trẻ mắc bệnh Crohn, mục tiêu điều trị hàng đầu là lựa chọn những liệu pháp giúp giảm nhẹ các triệu chứng mà ít gây ra các tác dụng không mong muốn đối với sức khỏe. Một số loại thuốc có thể đặc biệt nguy hiểm khi sử dụng cho trẻ em, ví dụ như infliximab (Remicade) thường dùng cho người lớn.
Infliximab khá hiệu quả khi điều trị bệnh ở người lớn, nhưng nó có thể gây ra một dạng ung thư hiếm gặp của tế bào bạch cầu (hepatosplenic T-cell lymphoma) ở trẻ em, đặc biệt là những trẻ cũng đang sử dụng thuốc điều trị bệnh Crohn khác. Tuy nhiên, Remicade gần đây đã được FDA chấp thuận để điều trị cho những trẻ mắc bệnh Crohn mức độ trung bình tới nặng mà không đáp ứng với các phương pháp khác. Trong trường hợp này, bác sỹ sẽ là người giúp bạn đánh giá những lợi ích và nguy cơ của các phương pháp điều trị.
Hãy trao đổi với bác sỹ để lựa chọn được liệu pháp điều trị tốt nhất cho trẻ. Đôi khi việc phẫu thuật là cần thiết khi các phương pháp khác thất bại trong việc kiểm soát các triệu chứng ở trẻ.
Một trong những nhóm thuốc được sử dụng khá phổ biến để điều trị bệnh Crohn ở trẻ em đó là aminosalicylate (5-ASA) với tác dụng giảm viêm trong đường tiêu hóa. Do viêm là một nguyên nhân dẫn tới các triệu chứng của bệnh Crohn nên aminosalicylate có thể giúp phòng các đợt bùng phát của bệnh.
Tuy nhiên, các tác dụng không mong muốn của nhóm thuốc này bao gồm đau đầu, đau bụng và đầy hơi. Trong một số ít trường hợp, trẻ điều trị bằng aminosalicylate còn bị rụng tóc và phát ban ngoài da. Các thuốc nhóm này cũng làm tăng nguy cơ sưng phù tại tim, phổi và tụy.
Các kháng sinh hay được sử dụng để điều trị bệnh Crohn bao gồm metronidazol và ciprofloxacin được kê với liều thấp cho trẻ em. Cơ chế hoạt động của những thuốc này là giảm nhẹ viêm nhiễm đường tiêu hóa, giảm thiểu sự tái phát của các triệu chứng. Mỗi kháng sinh đều mang những tác dụng phụ riêng. Metronidazol có thể gây buồn nôn, nôn và mất vị giác. Nếu sử dụng trong một thời gian dài, thuốc này còn có thể gây cảm giác ngứa ran ở khắp bàn tay, bàn chân. Ciprofloxacin có thể gây đau đầu, phát ban và tiêu chảy, trong số ít trường hợp nó có thể gây viêm gân và đứt gân.
Một số thuốc thuộc nhóm corticosteroid có thể được kê cho những trẻ mắc bệnh Crohn.
Đây là những thuốc gây rất nhiều tác dụng không mong muốn, do vậy chúng hiếm khi là sự lựa chọn để điều trị lâu dài cho trẻ. Các corticosteroid có thể gây ra các tác dụng phụ sau:
Những tác dụng phụ này thường biến mất khi bác sỹ hạ thấp liều sử dụng hoặc dừng kê corticosteroid.
Các thuốc ức chế miễn dịch như azathioprine hay 6-mercaptopurine có thể được sử dụng để giúp giảm liều hay thay thế cho các corticosteroid. Các tác dụng phụ thường gặp của nhóm thuốc này:
Sử dụng thuốc ức chế miễn dịch còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh u lympho.
.png)
Mặc dù trong nhiều trường hợp trẻ vẫn cần phải điều trị bằng thuốc nhưng việc đảm bảo một chế độ dinh dưỡng cân bằng vẫn có thể giúp giảm các triệu chứng. Hãy đảm bảo trẻ cung cấp đủ protein từ thịt nạc, trái cây và rau xanh. Việc bổ sung các thực phẩm giàu chất xơ hòa tan như sốt táo, việt quất và bột yến mạch cũng rất cần thiết. Trẻ cũng cần bổ sung thêm canxi nếu bị yếu xương. Ngoài ra, các bác sỹ cũng khuyến cáo nên bổ sung thêm các vitamin và khoáng chất khác.
Mặc dù đây là biện pháp khá an toàn trong việc đẩy lùi các triệu chứng của bệnh Crohn nhưng nó cũng tốn nhiều thời gian và bất tiện khi sử dụng. Do vậy, hãy trao đổi với bác sỹ để quyết định xem có nên cho trẻ sử dụng EEN hay không.
Nguồn: Viện Y học Ứng dụng Việt Nam
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh