Thai kỳ thai kéo dài 40 tuần để đủ thời gian dành cho bào thai tăng trưởng. Vào tuần thứ 40, các cơ quan thường được phát triển đầy đủ. Nếu trẻ sinh ra quá sớm, phổi có thể không phát triển đầy đủ, và chúng có thể hoạt động không bình thường. Phổi khỏe mạnh rất quan trọng đối với sức khoẻ tổng thể của trẻ.
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh (RDS), có thể xảy ra nếu phổi của trẻ không phát triển đầy đủ. Bệnh thường xảy ra ở trẻ sơ sinh non tháng. Trẻ sơ sinh mắc Hội chứng suy hô hấp sơ sinh thường bị khó thở.
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh còn được gọi là bệnh màng trong và hội chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh.
Sufactant là một chất cho phép phổi nở rộng và co lại, đồng thời cũng giữ các túi phế nang trong phổi luôn mở. Trẻ thiếu tháng sẽ thiếu surfactant. Điều này có thể gây ra vấn đề ở phổi và khó thở.
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh cũng có thể xảy ra do một vấn đề phát triển liên quan đến di truyền học.
Phổi và chức năng phổi phát triển ngay trong tử cung. Trẻ sinh ra sớm thì nguy cơ mắc Hội chứng suy hô hấp sơ sinh càng cao. Trẻ sinh ra trước tuần thứ 28 của thai kì đặc biệt có nguy cơ cao. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm:
Trẻ sơ sinh thường có dấu hiệu của Hội chứng suy hô hấp sơ sinh ngay sau khi sinh. Tuy nhiên, đôi khi các triệu chứng phát triển trong vòng 24 giờ đầu sau sinh. Các triệu chứng để theo dõi bao gồm:
.png)
Khi trẻ được sinh ra bị Hội chứng suy hô hấp sơ sinh và các triệu chứng rõ ràng, trẻ sơ sinh thường được nhận vào đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU).
Ba phương pháp điều trị chính cho Hội chứng suy hô hấp sơ sinh là:
Liệu pháp thay thế surfactant cung cấp chất surfactant mà trẻ thiếu. Liệu pháp điều trị được thực hiện thông qua ống thở. Điều này đảm bảo chất này có thể đi vào phổi. Sau khi tiếp nhận chất surfactant, bác sĩ sẽ cho trẻ sơ sinh thở máy để hỗ trợ hô hấp. Thủ thuật này có thể cần được thực hiện nhiều lần, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Trẻ sơ sinh cũng có thể được điều trị bằng máy thở đơn thuần để hỗ trợ hô hấp. Một lựa chọn hỗ trợ hô hấp ít xâm lấn là máy áp suất dương liên tục qua mũi (NCPAP).
Liệu pháp ôxy cung cấp oxy cho các cơ quan của trẻ sơ sinh. Nếu không có oxy đầy đủ, các cơ quan không hoạt động đúng. Một máy thở hoặc NCPAP có thể giúp cung cấp oxy.
Ngăn ngừa việc sinh non làm giảm nguy cơ của Hội chứng suy hô hấp sơ sinh. Giảm nguy cơ sinh non, chăm sóc trước khi sinh liên tục trong suốt thai kỳ và tránh hút thuốc lá, ma túy và rượu.
Nếu phải sinh con sớm, người mẹ có thể phải dùng corticosteroid. Những thuốc này thúc đẩy phát triển phổi nhanh hơn và sản xuất surfactant, điều rất quan trọng đối với chức năng của phổi bào thai.
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh có thể trở nên tồi tệ hơn trong những ngày đầu tiên của cuộc đời em bé. Hội chứng suy hô hấp sơ sinh có thể gây tử vong. Cũng có thể có những biến chứng lâu dài do hoặc nhận quá nhiều oxy hoặc vì các cơ quan thiếu oxy. Các biến chứng có thể bao gồm:
Đây chỉ là những biến chứng có thể xảy ra; chúng có thể không xảy ra ở tất cả mọi đứa trẻ.
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh có thể là một thời gian đầy thách thức đối với cha mẹ. Nói chuyện với bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ sơ sinh của bạn để được tư vấn về các nguồn lực để giúp bạn quản lý những năm tiếp theo của cuộc sống con bạn. Có thể cần phải kiểm tra thêm, bao gồm khám mắt và thính giác và liệu pháp thể chất hoặc lời nói, trong tương lai. Tìm kiếm sự hỗ trợ và khuyến khích từ các nhóm hỗ trợ để giúp bạn đối phó với những căng thẳng tinh thần.
Nguồn: Viện Y học Ứng dụng Việt Nam
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh