✴️ Hồi sức tim phổi (CPR) và chăm sóc tim mạch khẩn cấp (ECC) năm 2020 (P3)

Nội dung

HỒI SINH TIM PHỔI CHO TRẺ SƠ SINH

Có hơn 4 triệu ca sinh nở hàng năm ở Hoa Kỳ và Canada. Cứ 10 trẻ mới sinh thì có đến 1 trẻ cần được trợ giúp để chuyển tiếp từ môi trường đầy dịch trong bụng mẹ sang căn phòng đầy không khí. Điều cần thiết là mỗi trẻ mới sinh phải có một người chăm sóc riêng để giúp quá trình chuyển tiếp đó trở nên dễ dàng và vì thế, người chăm sóc đó phải được đào tạo và trang bị cho vai trò này. Ngoài ra, một tỷ lệ đáng kể trẻ mới sinh cần chuyển tiếp có trợ giúp phải đối mặt với nguy cơ bị biến chứng, điều đó đòi hỏi nhân viên được đào tạo thêm. Tất cả các thiết lập chu kỳ sinh phải sẵn sàng cho tình huống này.

Quá trình tạo điều kiện chuyển tiếp được mô tả trong Quy tắc hồi sinh cho trẻ sơ sinh, trong đó bắt đầu với nhu cầu của mọi trẻ mới sinh và tiếp theo là các bước giải quyết nhu cầu của các trẻ mới sinh có thể gặp rủi ro. Trong Hướng dẫn năm 2020, chúng tôi đưa ra các khuyến nghị về cách tuân thủ quy tắc, bao gồm dự đoán và chuẩn bị, xử trí dây rốn khi sinh, các hành động ban đầu, theo dõi nhịp tim, hỗ trợ hô hấp, nhấn ngực, tiếp cận và các liệu pháp nội mạch, hoãn và ngừng hồi sinh, chăm sóc sau hồi sinh, các nhân tố và hiệu suất con người. Tại đây, chúng tôi nêu bật các khuyến nghị mới và được cập nhật mà chúng tôi tin rằng sẽ có tác động đáng kể đến kết quả từ việc bị ngưng tim.

Tóm tắt về các vấn đề chính và thay đổi lớn

Hồi sinh cho trẻ mới sinh đòi hỏi những người thực hiện được đào tạo cá nhân và theo nhóm phải có sự dự đoán và chuẩn bị.

Hầu hết trẻ sơ sinh mới chào đời không cần kẹp rốn hoặc hồi sinh ngay lập tức và có thể được đánh giá và theo dõi trong quá trình đặt da kề da với mẹ sau khi sinh.

Phòng ngừa hạ thân nhiệt là trọng tâm quan trọng trong hồi sinh cho trẻ sơ sinh. Tầm quan trọng của việc chăm sóc da kề da ở các em bé khỏe mạnh được củng cố như một phương pháp để thúc đẩy mối quan hệ gắn bó với cha mẹ, nuôi con bằng sữa mẹ và tình mẫu tử.

Độ phồng và thông khí của phổi là ưu tiên hàng đầu ở trẻ sơ sinh mới chào đời cần được hỗ trợ sau khi sinh.

Nhịp tim tăng là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá khả năng thông khí hiệu quả và phản ứng lại các can thiệp hồi sinh.

Đo oxy qua mạch đập được sử dụng để làm chỉ dẫn cho liệu pháp oxy và đạt các mục tiêu bão hòa oxy.

Không khuyến nghị Hút nội khí quản thường quy cho cả trẻ sơ sinh khỏe mạnh và không khỏe mạnh được sinh ra với nước ối có phân su (MSAF). Hút nội khí quản chỉ được chỉ định nếu nghi ngờ bị tắc nghẽn đường thở sau khi đã thông khí áp lực dương (PPV).

Thực hiện nhấn ngực nếu nhịp tim kém phản ứng với việc thông khí sau các bước điều chỉnh thông khí thích hợp, tốt nhất là bao gồm đặt ống nội khí quản.

Phản ứng của nhịp tim với việc nhấn ngực và dùng thuốc nên được theo dõi bằng điện tâm đồ.

Khi cần tiếp cận mạch máu ở trẻ sơ sinh mới chào đời, đường tĩnh mạch rốn được ưu tiên hơn. Khi không thể dùng ống dẫn IV, đường truyền trong xương (IO) có thể được cân nhắc.

Nếu có phản ứng kém với việc nhấn ngực, cung cấp epinephrine, tốt nhất là qua đường nội mạch có thể là hợp lý.

Trẻ mới sinh không phản ứng với epinephrine và có tiền sử hoặc khám bệnh liên quan đến tình trạng mất máu có thể cần mở rộng thể tích.

Nếu tất cả các bước hồi sinh này được hoàn thành một cách hiệu quả và không có phản ứng nhịp tim trong vòng 20 phút, nên thảo luận về việc chuyển hướng chăm sóc với cả nhóm và gia đình.

Các khuyến nghị mới và được cập nhật chính

Dự đoán nhu cầu hồi sinh

2020 (Mới): Mỗi ca sinh nở phải có mặt ít nhất 1 người có thể thực hiện các bước ban đầu của quy trình hồi sinh cho trẻ mới sinh, thực hiện PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương) và người đó chỉ có trách nhiệm chăm sóc trẻ mới sinh.

Lý do: Để hỗ trợ quá trình chuyển tiếp trơn tru và an toàn cho trẻ mới sinh từ trong bụng mẹ sang hít thở không khí, mỗi ca sinh nở phải có mặt ít nhất 1 người có trách nhiệm chính với trẻ mới sinh và người này được đào tạo và trang bị để thực hiện PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương) ngay lập tức. Các nghiên cứu quan sát và cải tiến chất lượng chỉ ra rằng cách tiếp cận này cho phép xác định trẻ mới sinh có thể gặp rủi ro, ủng hộ việc sử dụng danh sách kiểm tra để chuẩn bị thiết bị và tạo điều kiện cho việc tóm lược cho nhóm. Một đánh giá hệ thống về đào tạo hồi sinh cho trẻ sơ sinh ở những bối cảnh có ít nguồn lực đã cho thấy cả số thai chết lưu và tử vong trong 7 ngày đều giảm đi.

Kiểm soát nhiệt độ cho trẻ sơ sinh mới chào đời

2020 (Mới): Việc đặt trẻ sơ sinh mới chào đời khỏe mạnh không cần hồi sinh ở vị trí da kề da sau khi sinh có thể có hiệu quả trong việc cải thiện khả năng cho con bú, kiểm soát nhiệt độ và ổn định đường huyết.

Lý do: Chứng cứ từ một đánh giá hệ thống của Cochrane cho thấy việc tiếp xúc da kề da sớm sẽ thúc đẩy nhiệt độ bình thường ở trẻ mới sinh khỏe mạnh. Ngoài ra, 2 phân tích tổng hợp về RCT (Randomized controlled trials; Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng) và các nghiên cứu quan sát về việc chăm sóc da kề da kéo dài sau khi hồi sinh và/hoặc ổn định ban đầu đã cho thấy tỷ lệ tử vong giảm, việc cho con bú được cải thiện, thời gian nằm viện được rút ngắn và việc tăng cân ở các bé sinh non và nhẹ cân khi sinh ra được cải thiện.

Thông đường thở khi có phân su

2020 (Đã cập nhật): Đối với trẻ mới sinh không khỏe mạnh (có biểu hiện ngừng thở hoặc nỗ lực thở không hiệu quả) được sinh ra qua MSAF (meconium-stained amniotic fluid; nước ối có phân su), không khuyến nghị áp dụng soi thanh quản thường quy dù có hoặc không có hút khí quản.

2020 (Đã cập nhật): Đối với trẻ mới sinh không khỏe mạnh được sinh ra qua MSAF(meconium-stained amniotic fluid; nước ối có phân su) có dấu hiệu tắc nghẽn đường thở trong quá trình PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương), đặt ống nội khí quản và hút khí quản có thể có lợi.

2015 (Cũ): Khi có phân su, không nên đặt ống nội khí quản thường quy để hút khí quản trong trường hợp này vì không có đủ chứng cứ để tiếp tục khuyến nghị việc thực hành này.

Lý do: Ở những trẻ sơ sinh mới chào đời với MSAF (meconium-stained amniotic fluid; nước ối có phân su) không khỏe mạnh khi mới sinh, có thể cung cấp các bước ban đầu và PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương). Hút nội khí quản chỉ được chỉ định nếu nghi bị tắc nghẽn đường thở sau khi thực hiện PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương). Chứng cứ từ RCT (Randomized controlled trials; Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng) cho thấy rằng trẻ mới sinh không khỏe mạnh được sinh ra qua MSAF(meconium-stained amniotic fluid; nước ối có phân su) có kết quả tương tự (tỷ lệ sống sót, nhu cầu hỗ trợ hô hấp) cho dù việc hút được thực hiện trước hay sau khi khởi đầu PPV (positive- pressure ventilation; thông khí áp lực dương). Soi thanh quản trực tiếp và hút nội khí quản không được yêu cầu thường quy đối với trẻ mới sinh được sinh ra qua MSAF(meconium-stained amniotic fluid; nước ối có phân su), nhưng những phương pháp đó có thể có lợi ở trẻ mới sinh có dấu hiệu tắc nghẽn đường thở khi đang được thực hiện PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương).

Tiếp cận qua mạch máu

2020 (Mới): Đối với các em bé cần được tiếp cận qua mạch máu tại thời điểm sinh, khuyến khích dùng đường tĩnh mạch rốn. Khi không thể dùng ống dẫn IV, đường truyền trong xương (IO) có thể là hợp lý.

Lý do: Trẻ mới sinh không phản ứng với PPV (positive-pressure ventilation; thông khí áp lực dương) và việc nhấn ngực cần được tiếp cận qua mạch máu để truyền epinephrine và/hoặc thuốc giãn nở thể tích. Đặt ống thông tĩnh mạch rốn là kỹ thuật được ưu tiên trong phòng sinh. Ống dẫn IO là một giải pháp thay thế nếu việc tiếp cận qua tĩnh mạch rốn không khả thi hoặc khi thực hiện chăm sóc bên ngoài phòng sinh. Một số báo cáo trường hợp đã mô tả các biến chứng cục bộ liên quan đến việc đặt kim trong xương (IO).

Chấm dứt hồi sinh

2020 (Đã cập nhật): Ở những em bé mới sinh được hồi sinh, nếu không có nhịp tim khi đã thực hiện tất cả các bước hồi sinh, cần thảo luận với đội ngũ y tế và gia đình về việc ngừng hồi sinh. Khung thời gian hợp lý cho việc thay đổi mục tiêu chăm sóc này là khoảng 20 phút sau khi sinh.

2010 (Cũ): Ở em bé mới sinh không phát hiện được nhịp tim, cân nhắc ngừng hồi sinh nếu không phát hiện được nhịp tim trong 10 phút là phù hợp.

Lý do: Trẻ mới sinh không phản ứng với các nỗ lực hồi sinh trong khoảng 20 phút  từ khi sinh ra có khả năng sống sót thấp.  Vì lý do này, khung thời gian để quyết định về việc ngừng các nỗ lực hồi sinh đã được đề xuất, nhấn mạnh sự tham gia của cha mẹ và đội ngũ hồi sinh trước khi chuyển hướng chăm sóc.

Hiệu suất con người và hệ thống

2020 (Đã cập nhật): Đối với những người tham gia đã được đào tạo về hồi sinh cho trẻ sơ sinh, đào tạo tăng cường cho cá nhân hoặc đội ngũ nên diễn ra thường xuyên hơn chứ không chỉ 2 năm một lần, để hỗ trợ việc ghi nhớ kiến thức, kỹ năng và hành vi.

2015 (Cũ): Các nghiên cứu tìm hiểu về mức độ đào tạo thường xuyên cần có dành cho những nhân viên y tế hoặc học viên y tế cho thấy không có sự khác biệt về kết quả của bệnh nhân nhưng có thể cho thấy một số ưu thế trong hiệu suất tâm thần vận động, kiến thức và sự tự tin khi được đào tạo tập trung 6 tháng một lần hoặc thường xuyên hơn. Do đó, có đề xuất rằng đào tạo công tác hồi sinh cho trẻ sơ sinh nên diễn ra thường xuyên hơn là sau mỗi 2 năm như hiện tại.

Lý do: Các nghiên cứu giáo dục cho thấy rằng kiến thức và kỹ năng hồi sinh tim phổisẽ mất dần trong vòng 3 đến 12 tháng sau khi đào tạo. Việc đào tạo tăng cường trong thời gian ngắn, thường xuyên đã được chứng minh là cải thiện hiệu suất trong các nghiên cứu mô phỏng và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh trong những trường hợp có ít nguồn lực. Để dự đoán và chuẩn bị hiệu quả, những người thực hiện và các đội ngũ có thể cải thiện hiệu suất của họ bằng cách luyện tập thường xuyên.

 

KHOA HỌC GIÁO DỤC HỒI SINH

Giáo dục hiệu quả là một biến số mấu chốt trong việc cải thiện kết quả sống sót sau khi bị ngưng tim. Nếu không có sự giáo dục hiệu quả, những người cứu hộ không chuyên và những nhân viên y tế sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng khoa học hỗ trợ điều trị ngưng tim dựa trên chứng cứ một cách nhất quán. Thiết kế hướng dẫn dựa trên chứng cứ là rất quan trọng để cải thiện hiệu suất của người thực hiện và các kết quả liên quan đến bệnh nhân do bị ngưng tim. Các đặc điểm thiết kế hướng dẫn là các thành phần thiết thực, các yếu tố quan trọng của các chương trình đào tạo hồi sinh quyết định cách thức và thời điểm cung cấp nội dung cho học viên.

Trong Hướng dẫn năm 2020, chúng tôi đưa ra các khuyến nghị về các đặc điểm thiết kế hướng dẫn khác nhau trong đào tạo hồi sinh và mô tả những sự cân nhắc của người thực hiện cụ thể ảnh hưởng ra sao đến việc giáo dục hồi sinh. Ở đây, chúng tôi nêu bật các khuyến nghị mới và được cập nhật trong việc giáo dục mà chúng tôi tin rằng sẽ có tác động đáng kể đến kết quả sau khi bị ngưng tim.

Tóm tắt về các vấn đề chính và thay đổi lớn

Việc áp dụng luyện tập có chủ đích và học tập thành thạo trong quá trình đào tạo hồi sinh tim phổi và kết hợp việc lặp lại cùng phản hồi và các tiêu chuẩn vượt qua tối thiểu, có thể cải thiện việc tiếp thu kỹ năng.

Đào tạo tăng cường (tức là các buổi  đào tạo lại ngắn hạn) nên được thêm vào việc học đại trà (tức là dựa trên khóa học truyền thống) để hỗ trợ ghi nhớ các kỹ năng CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; hồi sinh tim phổi). Với điều kiện là các học viên riêng lẻ có thể tham dự tất cả các buổi, việc chia khóa đào tạo thành nhiều buổi (tức là học tập cách quãng) sẽ được ưu tiên hơn so với việc học đại trà.

Đối với người không chuyên, đào tạo tự định hướng, một mình hoặc kết hợp với đào tạo có giáo viên hướng dẫn được khuyến nghị để cải thiện tính sẵn sàng và khả năng để thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; hồi sinh tim phổi). Việc áp dụng nhiều hơn phương pháp đào tạo tự định hướng có thể loại bỏ trở ngại trong việc đào tạo rộng rãi hơn cho người không chuyên về CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; hồi sinh tim phổi).

Trẻ em ở độ tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông nên được đào tạo để thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; hồi sinh tim phổi) chất lượng cao.

Đào tạo tại chỗ (tức là giáo dục hồi sinh trong không gian lâm sàng thực tế) có thể được sử dụng để nâng cao kết quả học tập và cải thiện hiệu suất hồi sinh.

Thực tế ảo, là việc sử dụng giao diện máy tính để tạo ra một môi trường nhập vai và học tập áp dụng trò chơi, là việc chơi trò chơi và thi đua với các học viên khác, có thể được kết hợp vào đào tạo hồi sinh cho người không chuyên và nhân viên y tế.

Người không chuyên phải được đào tạo về cách ứng phó với nạn nhân bị quá liều opioid, bao gồm cả việc cho dùng naloxone.

Việc đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho người xung quanh nên nhắm vào các nhóm người có điều kiện kinh tế xã hội, chủng tộc và dân tộc cụ thể đã từng có tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) thấp hơn. Đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) nên giải quyết các rào cản liên quan đến giới tính để cải thiện tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) đối với phụ nữ.

Các hệ thống EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) nên giám sát mức độ tiếp xúc của những người thực hiện dịch vụ khi điều trị cho nạn nhân bị ngưng tim. Sự khác nhau về mức độ tiếp xúc giữa những người thực hiện trong một hệ thống EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) nhất định có thể được hỗ trợ bằng cách thực hiện các chiến lược có mục tiêu về đào tạo bổ sung và/hoặc điều chỉnh nhân sự.

Tất cả các nhân viên y tế nên hoàn thành khóa học ACLS (Advanced Cardiovascular Life Support; Hồi sinh tim mạch nâng cao) dành cho người lớn hoặc khóa học tương đương.

Việc áp dụng đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi), đào tạo hàng loạt, các chiến dịch nâng cao nhận thức về CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và khuyến khích thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) bằng cách nhấn ngực đơn thuần cần được tiếp tục rộng rãi để cải thiện khả năng sẵn sàng thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho nạn nhân bị ngưng tim, tăng tần suất người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và cải thiện kết quả sau khi bị OHCA (out-of- hospital cardiac arrest; ngưng tim ngoài bệnh viện).

Các khuyến nghị mới và được cập nhật chính

Luyện tập có chủ đích và học tập thành thạo

2020 (Mới): Việc kết hợp mô hình luyện tập có chủ đích và học tập thành thạo vào các khóa học hồi sinh tim phổi cơ bản hoặc nâng cao có thể được cân nhắc để cải thiện việc tiếp thu kỹ năng và hiệu suất.

Lý do: Luyện tập có chủ đích là một phương pháp đào tạo trong đó học viên được giao một mục tiêu riêng biệt để phấn đấu, có phản hồi ngay lập tức về hiệu suất của họ và có nhiều thời gian để lặp lại nhằm cải thiện hiệu suất. Học tập thành thạo được định nghĩa là việc đào tạo và kiểm tra việc luyện tập có chủ đích, bao gồm một bộ tiêu chí để xác định rõ một tiêu chuẩn vượt qua cụ thể, thể hiện sự thông thạo các công tác đang được học.

Chứng cứ cho thấy rằng việc kết hợp mô hình luyện tập có chủ đích và học tập thành thạo vào các khóa học hồi sinh tim phổi cơ bản hoặc nâng cao sẽ cải thiện nhiều kết quả học tập.

Đào tạo tăng cường và học tập cách quãng

2020 (Mới): Khuyến nghị thực hiện các buổi tăng cường khi áp dụng phương pháp học tập đại trà để đào tạo hồi sinh.

2020 (Mới): Áp dụng phương pháp học tập cách quãng thay cho phương pháp học tập đại trà để đào tạo hồi sinh là hợp lý.

Lý do: Việc bổ sung các buổi đào tạo tăng cường, đó là các buổi ngắn hạn, thường xuyên, tập trung vào việc lặp lại nội dung trước đó, vào các khóa học hồi sinh để cải thiện việc ghi nhớ các kỹ năng CPR(Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinhtim phổi). Tần suất của các buổi tăng cường phải được cân bằng với khả năng tham gia của học viên và việc cung cấp các nguồn lực hỗ trợ việc tổ chức đào tạo tăng cường.

Các nghiên cứu cho thấy rằng các khóa học cách quãng, hoặc quá trình đào tạo được chia thành nhiều buổi, có hiệu quả tương đương hoặc cao hơn khi so sánh với các khóa học được tổ chức thành sự kiện đào tạo một lần. Bắt buộc học viên phải tham dự tất cả các buổi để đảm bảo việc hoàn thành khóa học vì mỗi buổi đều có nội dung mới.

Đào tạo người cứu hộ không chuyên

2020 (Đã cập nhật): Sự kết hợp giữa tự hướng dẫn và giảng dạy có giáo viên động đào tạo được thực hiện trong các khu hướng dẫn với đào tạo thực hành được khuyến nghị như một sự thay thế cho các khóa học có giáo viên hướng dẫn dành cho những người cứu hộ không chuyên. Nếu không thể tổ chức đào tạo có giáo viên hướng dẫn, đào tạo tự định hướng được khuyến nghị cho người cứu hộ không chuyên.

2020 (Mới): Khuyến nghị đào tạo cho trẻ em ở độ tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông cách thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) chất lượng cao.

2015 (Cũ): Sự kết hợp giữa tự hướng dẫn và giảng dạy có giáo viên hướng dẫn với đào tạo thực hành có thể được cân nhắc như một sự thay thế cho các khóa đào tạo có giáo viên hướng dẫn truyền thống cho người thực hiện không chuyên. Nếu không thể tổ chức đào tạo có giáo viên hướng dẫn, đào tạo tự định hướng có thể được cân nhắc để giúp những người thực hiện không chuyên học các kỹ năng sử dụng AED (automated external defibrillator; máy khử rung tim bên ngoài tự động).

Lý do: Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tự hướng dẫn hoặc hướng dẫn dựa trên video cũng có hiệu quả như đào tạocó giáo viên hướng dẫn đối với việc đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho người cứu hộ không chuyên. Việc chuyển hướng sang đào tạo tự định hướng nhiều hơn có thể tạo ra tỷ lệ số người cứu hộ không chuyên được đào tạo cao hơn, do đó làm tăng khả năng sẵn sàng của một người cứu hộ không chuyên để thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) khi cần thiết. Đào tạo cho trẻ em trong độ tuổi đi học để thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) giúp trẻ tự tin và có thái độ tích cực trong việc thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi). Đặt mục tiêu đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation.

Hồi sinh tim phổi) cho nhóm người này giúp xây dựng lực lượng người cứu hộ không chuyên được đào tạo dựa trên cộng đồng trong tương lai.

Giáo dục tại chỗ

2020 (Mới): Tiến hành đào tạo hồi sinh dựa trên mô phỏng tại chỗ bên cạnh việc đào tạo truyền thống sẽ là hợp lý.

2020 (Mới): Tiến hành đào tạo hồi sinh dựa trên mô phỏng tại chỗ thay cho đào tạo truyền thống có thể là hợp lý.

Lý do: Mô phỏng tại chỗ ám chỉ các hoạt động đào tạo được thực hiện tại các vực chăm sóc bệnh nhân thực tế, với ưu điểm là cung cấp một môi trường đào tạo thực tế hơn. Chứng cứ mới cho thấy rằng đào tạo trong môi trường tại chỗ, đơn lẻ hoặc kết hợp với đào tạo truyền thống, có thể có tác động tích cực đến kết quả học tập (ví dụ: thời gian thực hiện các công tác quan trọng và hiệu suất của nhóm nhanh hơn) và kết quả của bệnh nhân (ví dụ: cải thiện khả năng sống sót, kết quả thần kinh).

Khi tiến hành mô phỏng tại chỗ, giáo viên hướng dẫn nên cảnh giác với những rủi ro tiềm ẩn, chẳng hạn như để lẫn vật dụng đào tạo với vật dụng y tế thật.

Học tập áp dụng trò chơi và Thực tế ảo

2020 (Mới): Có thể cân nhắc phương pháp học tập áp dụng trò chơi và thực tế ảo để đào tạo hồi sinh tim phổi cơ bản hoặc nâng cao cho những người cứu hộ không chuyên và/hoặc nhân viên y tế.

Lý do: Việc học tập áp dụng trò chơi kết hợp với thi đua hoặc chơi trò chơi xoay quanh chủ đề hồi sinh và thực tế ảo sử dụng giao diện máy tính cho phép người dùng tương tác trong phạm vi môi trường ảo. Một số nghiên cứu đã chứng minh những lợi ích tích cực đối với kết quả học tập (ví dụ: cải thiện khả năng tiếp thu kiến thức, ghi nhớ kiến thức và các kỹ năng CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi)) với các phương thức này. Các chương trình tìm cách triển khai việc học tập áp dụng trò chơi hoặc thực tế ảo nên cân nhắc về chi phí khởi đầu cao do việc mua thiết bị và phần mềm.

Đào tạo xử lý quá liều opioid cho người cứu hộ không chuyên

2020 (Mới): Những người cứu hộ không chuyên được đào tạo về cách ứng phó với việc sử dụng quá liều opioid, bao gồm cả việc cung cấp naloxone là hợp lý.

Lý do: Số ca tử vong do sử dụng opioidquá liều ở Hoa Kỳ đã tăng hơn gấp đôi trong thập kỷ qua. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đào tạo hồi sinh mục tiêu cho người sử dụng opioid cũng như gia đình và bạn bè của họ có liên quan đến tỷ lệ dùng naloxone cao hơn trong các trường hợp quá liều được chứng kiến.

Sự chênh lệch trong giáo dục

2020 (Mới): Khuyến nghị đặt mục tiêu và điều chỉnh việc đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho người không chuyên phù hợp với các nhóm người và khu dân cư với chủng tộc và dân tộc cụ thể ở Hoa Kỳ.

2020 (Mới): Giải quyết các rào cản cho việc người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho nạn nhân nữ thông qua đào tạo giáo dục và các nỗ lực nâng cao nhận thức cộng đồng là hợp lý.

Lý do: Các cộng đồng có địa vị kinh tế xã hội thấp và những cộng đồng chủ yếu là người da màu và gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR(Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) thấp. Phụ nữ cũng ít có khả năng được người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi), có thể là do người xung quanh sợ làm nạn nhân nữ bị thương hoặc bị buộc tội là có hành vi đụng chạm không phù hợp.

Việc đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho người xung quanh nên nhắm vào các nhóm người có điều kiện kinh tế xã hội, chủng tộc và dân tộc cụ thể đã từng có tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) thấp hơn. Đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) nên giải quyết các rào cản liên quan đến giới tính để cải thiện tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) đối với phụ nữ.

Đặt mục tiêu giáo dục CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cho các nhóm người thuộc chủng tộc, dân tộc và có địa vị kinh tế xã hội thấp cụ thể và điều chỉnh việc giáo dục để giải quyết sự khác biệt về giới tính có thể loại bỏ sự chênh lệch trong đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và việc người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi), có khả năng cải thiện kết quả khi bị ngưng tim ở những nhóm người này.

Kinh nghiệm của người thực hiện EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) và Mức độ tiếp xúc với trường hợp ngưng tim ngoài bệnh viện

2020 (Mới): Hệ thống EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) giám sát mức độ tiếp xúc của nhân sự y tế với việc hồi sinh để đảm bảo đội ngũ điều trị có các thành viên có đủ năng lực trong việc xử trí các trường hợp ngưng tim là hợp lý. Năng lực của các đội ngũ có thể được củng cố thông qua các chiến lược nhân sự hoặc đào tạo.

Lý do: Một đánh giá hệ thống gần đây cho thấy việc người thực hiện EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) tiếp xúc với các trường hợp ngưng tim có liên quan đến việc cải thiện kết quả của bệnh nhân, bao gồm tỷ lệ ROSC (return of spontaneous circulation; tái lập tuần hoàn tự nhiên) và tỷ lệ sống sót. Vì mức độ tiếp xúc có thể khác nhau, chúng tôi khuyến nghị rằng hệ thống EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) giám sát mức độ tiếp xúc của người thực hiện và phát triển các chiến lược để giải quyết mức độ tiếp xúc thấp.

Tham gia khóa học ACLS (Advanced Cardiovascular Life Support; Hồi sinh tim mạch nâng cao)

2020 (Mới): Các chuyên gia y tế tham gia khóa học ACLS (Advanced Cardiovascular Life Support; Hồi sinh tim mạch nâng cao) dành cho người lớn hoặc khóa đào tạo tương đương là hợp lý.

Lý do: Trong hơn 3 thập kỷ, khóa học ACLS (Advanced Cardiovascular Life Support; Hồi sinh tim mạch nâng cao) đã được công nhận là một thành phần thiết yếu của việc đào tạo hồi sinh cho những người thực hiện chăm sóc sức khỏe cấp tính. Các nghiên cứu cho thấy rằng các đội hồi sinh với 1 hoặc nhiều thành viên trong nhóm được đào tạo về ACLS (Advanced Cardiovascular Life Support; Hồi sinh tim mạch nâng cao) có kết quả bệnh nhân tốt hơn.

Sự sẵn sàng thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) của người xung quanh

2020 (Mới): Tăng mức độ sẵn sàng thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) của người xung quanh thông qua đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi), đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) đại trà, các sáng kiến nâng cao nhận thức về CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và khuyến khích thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) nhấn ngực đơn thuần là hợp lý.

Lý do: Việc người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) kịp thời làm tăng gấp đôi cơ hội sống sót của nạn nhân khi bị ngưng tim. Đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi), đào tạo CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) đại trà, các sáng kiến nâng cao nhận thức về CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và khuyến khích thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) nhấn ngực đơn thuần đều có liên quan đến việc tăng tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi).

 

HỆ THỐNG CHĂM SÓC

Việc sống sót sau khi bị ngưng tim đòi hỏi một hệ thống tích hợp gồm con người, đào tạo, thiết bị và tổ chức. Những người xung quanh sẵn sàng, chủ sở hữu của AED (automated external defibrillator; máy khử rung tim bên ngoài tự động), nhân viên liên lạc của dịch vụ cấp cứu và những người thực hiện BLS (Basic Life Support; Hồi sinh tim phổi cơ bản) và ALS (Advanced Life Support; Hồi sinh tim phổi nâng cao) làm việc trong hệ thống EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) đều góp phần vào việc hồi sinh thành công khi bị OHCA (out-of-hospital cardiac arrest; ngưng tim ngoài bệnh viện). Trong bệnh viện, công tác của bác sĩ, y tá, bác sĩ trị liệu hô hấp, dược sĩ và các chuyên gia khác sẽ hỗ trợ kết quả hồi sinh.

Hồi sinh thành công còn phụ thuộc vào sự đóng góp của các nhà sản xuất thiết bị, các công ty dược phẩm, các giáo viên hướng dẫn hồi sinh, những người phát triển hướng dẫn và nhiều người khác. Tình trạng của người sống sót về lâu dài cần có sự hỗ trợ từ gia đình và những người chăm sóc chuyên nghiệp, bao gồm các chuyên gia về tái thiết và hồi phục nhận thức, thể chất và tâm lý. Cam kết cải thiện chất lượng trên toàn hệ thống ở mọi cấp độ chăm sóc là điều cần thiết để đạt được kết quả thành công.

Tóm tắt về các vấn đề chính và thay đổi lớn

Quá trình hồi phục tiếp tục kéo dài sau lần nhập viện đầu tiên và là một thành phần quan trọng của Dây chuyền xử trí cấp cứu hồi sinh.

Nỗ lực hỗ trợ khả năng và sự sẵn sàng của các thành viên trong cộng đồng chung trong việc thực hiện CPR(Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và sử dụng AED (automated external defibrillator; máy khử rung tim bên ngoài tự động) sẽ cải thiện kết quả hồi sinh trong các cộng đồng.

Các phương pháp mới sử dụng công nghệ điện thoại di động để cảnh báo những người cứu hộ không chuyên được đào tạo về các trường hợp cần thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) rất có triển vọng và đáng được nghiên cứu thêm.

Nhân viên liên lạc của hệ thống cấp  cứu có thể hướng dẫn người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) nhấn ngực đơn thuần cho người lớn và trẻ em. Khung thực hiện No-No-Go (Không tỉnh-Không thở-Thực hiện hồi sinh tim phổi) có hiệu quả.

Hệ thống chấm điểm cảnh báo sớm và đội phản ứng nhanh có thể ngăn ngừa tình trạng ngưng tim ở cả bệnh viện nhi và bệnh viện của người lớn, nhưng có quá nhiều tài liệu nên không rõ những thành phần nào của các hệ thống này có thể đem lại lợi ích.

Các biện pháp hỗ trợ nhận thức có thể cải thiện hiệu suất hồi sinh của những người không chuyên chưa được đào tạo, nhưng trong các trường hợp mô phỏng, việc sử dụng các biện pháp đó sẽ trì hoãn việc bắt đầu thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi). Cần phát triển và nghiên cứu thêm trước khi các hệ thống này có thể được phê chuẩn hoàn toàn.

Đáng ngạc nhiên là ít người biết về tác dụng của các biện pháp hỗ trợ nhận thức đối với hiệu suất của EMS (emergency medical service; dịch vụ y tế khẩn cấp) hoặc các đội ngũ hồi sinh tại bệnh viện.

Mặc dù các trung tâm chuyên khoa về ngưng tim cung cấp các phác đồ và công nghệ không có sẵn ở tất cả các bệnh viện, tài liệu hiện có về những ảnh hưởng của chúng đối với kết quả hồi sinh vẫn chưa được tách biệt.

Phản hồi trong đội ngũ rất quan trọng. Các giao thức phỏng vấn có cấu trúc giúp cải thiện hiệu suất của đội ngũ hồi sinh trong lần hồi sinh tiếp theo.

Phản hồi trên toàn hệ thống rất quan trọng. Việc thực hiện thu thập và xem xét dữ liệu có cấu trúc giúp cải thiện quy trình hồi sinh và khả năng sống sót cả trong và ngoài bệnh viện.

Các khuyến nghị mới và được cập nhật chính

Sử dụng thiết bị di động để gọi người cứu hộ

Mới (2020): Việc sử dụng công nghệ điện thoại di động của hệ thống điều phối cấp cứu để cảnh báo những người xung quanh sẵn sàng về các trường hợp gần đó có thể cần thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) hoặc sử dụng AED (automated external defibrillator; máy khử rung tim bên ngoài tự động) là hợp lý.

Lý do: Mặc dù vai trò của những người ứng cứu không chuyên đầu tiên trong việc cải thiện kết quả OHCA (out-of-hospital cardiac arrest; ngưng tim ngoài bệnh viện) đã được công nhận, hầu hết các cộng đồng đều có tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) và sử dụng AED (automated external defibrillator; máy khử rung tim bên ngoài tự động) thấp. Một đánh giá hệ thống gần đây của ILCOR cho thấy việc thông báo cho những người cứu hộ không chuyên thông qua ứng dụng điện thoại thông minh hoặc cảnh báo bằng tin nhắn văn bản có liên quan đến thời gian phản ứng ngắn hơn của người xung quanh, tỷ lệ người xung quanh thực hiện CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi) cao hơn, thời gian khử rung tim ngắn hơn và tỷ lệ sống sót đến khi xuất viện cao hơn đối với những người trải qua OHCA (out-of-hospital cardiac arrest; ngưng tim ngoài bệnh viện). Những sự khác biệt về kết quả lâm sàng chỉ được thấy trong dữ liệu quan sát. Việc sử dụng công nghệ điện thoại di động vẫn chưa được nghiên cứu ở Bắc Mỹ, nhưng đề xuất về lợi ích ở các quốc gia khác khiến đây trở thành ưu tiên cho nghiên cứu trong tương lai, bao gồm cả tác động của những cảnh báo này đối với kết quả sau khi bị ngưng tim ở nhiều bệnh nhân, cộng đồng và bối cảnh địa lý.

Cơ sở lưu trữ dữ liệu để cải thiện hiệu suất hệ thống

Mới (2020): Các tổ chức điều trị bệnh nhân ngưng tim thu thập dữ liệu và kết quả của quá trình chăm sóc là điều hợp lý.

Lý do: Nhiều ngành, bao gồm cả chăm sóc sức khỏe, thu thập và đánh giá dữ liệu hiệu suất để đo lường chất lượng và xác định các cơ hội cải thiện. Điều này có thể được thực hiện ở cấp địa phương, khu vực hoặc quốc gia thông qua việc tham gia vào các cơ sở lưu trữ dữ liệu thu thập thông tin về các quá trình chăm sóc (ví dụ: dữ liệu về hiệu suất CPR (Cardiopulmonary Resuscitation; Hồi sinh tim phổi), các lần khử rung tim, tuân thủ các hướng dẫn) và kết quả chăm sóc (ví dụ: ROSC (return of spontaneous circulation, tái lập tuần hoàn tự nhiên), khả năng sống sót) liên quan đến ngưng tim. Ba sáng kiến phục vụ việc đó là cơ sở lưu trữ Get With The Guidelines-Resuscitation (Tìm hiểu Hướng dẫn-Hồi sinh) của AHA (đối với ngưng tim trong bệnh viện), cơ sở lưu trữ Cardiac Arrest Registry to Enhance Survival (Cơ sở lưu trữ ngưng tim để nâng cao khả năng sống sót) của AHA (đối với ngưng tim ngoài bệnh viện) và Cơ sở lưu trữ Resuscitation Outcomes Consortium Cardiac Epistry (cơ sở lữu trữ về bệnh tim của Mạng lưới Kết quả Hồi sinh) (đối với ngưng tim ngoài bệnh viện) và nhiều cơ sở dữ liệu khu vực hiện có. Một đánh giá hệ thống của ILCOR năm 2020 cho thấy hầu hết các nghiên cứu đánh giá tác động của các cơ sở lưu trữ dữ liệu, có hoặc không có báo cáo công khai, thể hiện sự cải thiện khả năng sống sót sau khi bị ngưng tim ở các tổ chức và cộng đồng tham gia vào các cơ sở lưu trữ về ngưng tim.

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top