Các triệu chứng lây nhiễm chéo phụ thuộc vào nguồn lây nhiễm và cả bộ phận cơ thể đã bị nhiễm trùng. Một trong những triệu chứng đầu tiên của lây nhiễm chéo đó là sốt. Đây là phản ứng bảo vệ của cơ thể để loại bỏ nhiễm trùng.
Một số ví dụ về lây nhiễm chéo bao gồm:
.png)
Lây nhiễm chéo có thể gây ra do:
Những vi sinh vật này có thể được truyền qua:
Các phương tiện truyền thông hiện nay đang đề cập đến sự nghiêm trọng của tình hình nhiễm trùng chéo tại bệnh viện do siêu vi khuẩn gây ra như Mycobacterium abscessus.
Ngoài ra, nhiễm trùng có thể xảy ra ở bất cứ địa điểm nào khác như:
Nguy cơ lây nhiễm chéo sẽ tăng lên nếu bạn đang trải qua một can thiệp y khoa. Cần lưu ý rằng lây nhiễm chéo cũng có thể xảy ra ở bên trong cơ thể, khi ổ nhiễm trùng từ một vị trí trong cơ thể lây lan sang cơ quan khác, ví dụ như nhiễm trùng hô hấp lây sang tai hoặc mắt.
.png)
Các bác sỹ thường kết hợp các phương pháp sau để chẩn đoán:
Việc điều trị lây nhiễm chéo phụ thuộc vào từng bệnh. Kháng sinh được sử dụng để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng nhưng không được dùng khi nhiễm virus.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp vi khuẩn trở nên thích nghi và đề kháng lại với kháng sinh dẫn tới sự hình thành của các chủng siêu vi khuẩn. Các chủng vi khuẩn mới này rất khó tiêu diệt và có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng.
Thuốc kháng virus được sử dụng để điều trị nhiễm một số loại virus. Thuốc kháng nấm dạng bôi hay dạng uống được dùng để trị nhiễm nấm. Nhiễm ký sinh trùng trong lây nhiễm chéo được điều trị bằng kháng sinh và thay đổi chế độ ăn.
Nhiễm trùng nếu không được điều trị có thể dẫn tới:
Nguy cơ gặp phải các biến chứng nguy hiểm khi tiến hành các thủ thuật y khoa sẽ tăng lên khi có lây nhiễm chéo.
Điều quan trọng là cần phải đi khám bác sỹ ngay nếu bạn lưu ý thấy bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào. Phát hiện càng sớm thì nhiễm trùng càng dễ điều trị.
Lây nhiễm chéo chỉ được điều trị triệt để khi phát hiện và điều trị đúng nguồn gây lây nhiễm. Kỹ thuật vô trùng là một quá trình thường được áp dụng tại bệnh viện để tiệt trùng các dụng cụ và thiết bị y tế, do vậy các vi sinh vật có hại không thể lây chéo từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác.
Lây nhiễm chéo có thể làm phức tạp và nghiêm trọng hơn một căn bệnh hay một thủ thuật nào đó. Nhiều cơ quan đặt ra những quy trình nghiêm ngặt để giảm nguy cơ lây nhiễm chéo.
Trường học thường không cho phép học sinh, sinh viên đi học nếu họ đang bị ốm. Và nhiều công ty cho phép nhân viên nghỉ nếu họ có những triệu chứng của cảm cúm.
Những biện pháp này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ lây nhiễm chéo. Ngoài ra, cần thường xuyên rửa tay sạch sẽ, và thực hành quy tắc vệ sinh để giảm thiểu nhiễm trùng.
Nguồn: Viện Y học Ứng dụng Việt Nam
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh