✴️ Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ

Nội dung
  1. Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ là xét nghiệm như thế nào ?

FNA kỹ thuật hút lấy tế bào và mẫu mô bệnh phẩm bằng một kim nhỏ. Mẫu bệnh phẩm này sau đó sẽ được xử lý và phân tích tại khoa giải phẫu bệnh để đưa ra chẩn đoán về mặt tế bào học.

  1. Chỉ định chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ ?

FNA giúp xác định được đặc tính lành/ác của các tổn thương, phân biệt được nguồn gốc xuất phát của u và dạng u và chẩn đoán một số bệnh lý lành tính ở các cơ quan trong cơ thể. Chính vì vậy, FNA cung cấp thêm cho bác sĩ thông tin để đưa ra hướng xử trí phù hợp nhất cho bệnh nhân.

  1. Chống chỉ định của chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ là gì ?
  • U thể cảnh và u sắc bào (có thể gây ngất và cơn cao huyết áp )
  • U bọc buồng trứng (nguy cơ gieo rắc tế bào u trong khoang màng bụng)
  • Nang ký sinh trùng (có thể gây shock phản vệ )
  • U nằm trên cơ địa dễ chảy máu (bệnh lý ưa chảy máu,…)
  1. Kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ được thực hiện như thế nào ?
  1. Chuẩn bị bệnh nhân: Giải thích mục đích của kỹ thuật chọc hút, cách thực hiện và các tai biến cho bệnh nhân để bệnh nhân đồng ý và hợp tác trong quá trình làm thủ thuật. Bệnh nhân được giữ ở tư thể thoải mái, sao cho vị trí cơ thể tiến hành thủ thuật được bộc lộ dễ dàng, sát trùng da vị trí chọc kim bằng cồn hoặc các dung dịch sát khuẩn khác.

Chọc hút FNA bằng kim có gắng Syringe (Orell & Sterrett’s Fine Needle Aspiration Cytology )

 

Túi dụng cụ dùng trong kỹ thuật FNA chứa các vật dụng như kim, lam kính, dung dịch cố định, ống tiêm (Atlas of Fine Needle Aspiration Cytology)

  1. Dụng cụ và trang thiết bị: kim nhỏ 22-27G (0.4-0.7 mm), chiều dài kim thay đổi tùy theo độ sâu của tổn thương, ống tiêm 10ml, báng súng, cồn sát trùng, bông gòn, kẹp, lam sạch, găng tay, khẩu trang.
  2. Tiến hành chọc hút:

Đối với các u sờ được:

  • Lắp ống tiêm đã gắn kim vào báng súng, cầm bằng 1 tay, tay còn lại cố định tổn thương và căng da bề mặt.
  • Đâm kim thẳng góc với bề mặt da một cách nhanh gọn, tiến vào tổn thương. Tổn thương có đường kính <1cm, vị trí đâm ở ngay tâm điểm, tổn thương đường kính >5cm có thể bị hoại tử trung tâm nên lệch ra vùng ngoại vi, các tổn thương 2-4cm đâm kim ở 2 vị trí đối xứng nhau qua tâm điểm. (Hình A). Tuy nhiên tại một số vị trí giải phẫu đặc biệt cần lựa chọn hướng kim phù hợp tránh biến chứng, các tổn thương ở thành ngực, hố nách hướng kim tiếp tuyến tránh tràn khí màng phổi, tổn thương tuyến giáp vị trí hướng kim cần tránh khí quản.
  • Kéo pít-tông để tạo áp lực âm. (Hình B)
  • Di chuyển kim tới lui 15-20 lần để cắt vụn mô tổn thương, khi thấy bệnh phẩm ló ra ở phần đốc kim thì ngừng cắt. (Hình C)
  • Thả pít tông để triệt tiêu áp lực âm. (Hình D)
  • Rút kim ra khỏi tổn thương. (Hình E)
  • Tháo kim, kéo pít-tông hút không khí vào ống tiêm. (Hình F)
  • Gắn kim trở lại và đẩy pít-tông để xịt bệnh phẩm lên lam. (Hình G)

 

Lấy mẫu FNA bằng kim có gắn ống tiêm (Orell & Sterrett’s Fine Needle Aspiration Cytology, fifth edition, Elsevier)

Đối với tổn thương rất nhỏ, nằm sát da hoặc có nhiều mạch máu có thể dùng kim không gắn syringe, dựa vào lực mao dẫn của kim để hút lấy bệnh phẩm.

FNA dùng kim không gắn ống tiêm. (A) Kim được đưa vào tổn thương, (B) Di chuyển kim tới lui theo nhiều góc độ để cắt vụn mô tổn thương (C) Rút kim ra khỏi tổn thương (D) Gắn ống tiêm vào kim để xịt bệnh phẩm lên lam. (Orell & Sterrett’s Fine Needle Aspiration Cytology, fifth edition, Elsevier)

 

Đối với các tổn thương u không sờ thấy hoặc nằm sâu trong cơ thể: việc chọc dò cần được thực hiện dưới hướng dẫn của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm.

  1. Phết và nhuộm tế bào: Bệnh phẩm sau khi được xịt lên lam cần được phết mỏng theo kiểu làm phết máu ngoại vi hoặc áp 2 mặt lam vào nhau tạo thành 1 lớp mỏng và đều. Tiêu bản tế bào phải được cố định khô hoặc ước (bằng ethanol 70-90%), sau đó được nhuộm bằng phương pháp Diff Quick, Papanicolaou.

Phết lam và cố định tiêu bản FNA ( Atlas of Fine Needle Aspiration Cytology)

  1. Kết quả và giá trị chọc hút tế bào học bằng kim nhỏ.

Hiện nay đã có một số hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế cho FNA: hệ thống Bethesda dùng trong FNA tuyến giáp, hệ thống Milan cho FNA tuyến nước bọt. Nhìn chung FNA các hệ cơ quan thường được chia làm 5 nhóm chính:

1.Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.

2. Lành tính.

3. Không điển hình, ý nghĩa không xác định.

4. Nghi ngờ ác tính.

5. Ác tính.

Độ nhạy và độ đặc hiệu của kết quả FNA có giá trị thay đổi tùy theo hệ cơ quan được khảo sát. Bác sĩ lâm sàng cần cân nhắc giá trị này, phối hợp các dữ liệu lâm sàng và các cận lâm sàng khác để có thể đưa ra hướng quản lý thích hợp cho từng bệnh nhân.

 


(Handbook of Practical Fine Needle Aspiration and Small Tissue Biopsies, 2018)

Bảng thống kê độ nhạy và độ đặc hiệu của FNA ở một số cơ quan

 

  1. Một số tai biến có thể gặp trong kỹ thuật FNA.
  • Khối máu tụ tại vị trí chọc hút đây là một tại biến thường gặp nhất ở các tổn thương nông, có nhiều mạch máu. Tuy nhiên có thể tránh bằng cách đè chặt bông tại vị trí chọc hút trong 10 phút.
  • Nhiễm trùng tại vị trí chọc dò là một tai biến hiếm gặp, được điều trị bằng kháng sinh thích hợp.
  • Tràn khí màng phổi, xuất huyết trong phổi là những tai biến gặp khi chọc hút tại một số vị trí đặc biệt như: hố trên đòn, hố nách hoặc xuyên thành ngực. Tuy nhiên thường nhẹ, có khả năng tự tiêu.
  • Một số tai biến khác hiếm gặp như: viêm phúc mạc, viêm tụy, thủng ruột xảy ra khi chọc xuyên thành bụng.
  1. Những hạn chế của kỹ thuật FNA.
  • Kết quả và độ chính xác phụ thuộc và chất lượng mẫu và cách phết lam.
  • Nhiều tổn thương là không đồng nhất, vì thế những mẫu bệnh phẩm nhỏ được lấy qua FNA không mang tính đại diện cho toàn bộ tổn thương, ngay cả khi FNA được hướng dẫn bởi siêu âm.
  • Một số tổn thương được nhận diện chủ yếu qua cấu trúc vi thể , tuy nhiên các cấu trúc này có thể không được thể hiện rõ qua tế bào học FNA.
  • Mẫu bệnh phẩm FNA có thể không cho phép thực hiện được thêm nhiều phương tiện hổ trợ chẩn đoán như đánh giá về mặt vi khuẩn, hóa mô miễn dịch..
  • Các tiêu chuẩn tế bào học trong một số bệnh lý hiếm gặp vẫn chưa được xác định.
  1. Những lý do khiến việc lấy mẫu bệnh phẩm không mang tính đại diện cho tổn thương trong kỹ thuật FNA.
  • Chọc kim không đúng vào vị trí tổn thương. (Hình B)
  • Chọc kim vào vị trí trung tâm của những tổn thương dạng nang, hoại tử, xuất huyết, vì vậy mẫu bệnh phẩm không có các thành phần cần thiết cho chẩn đoán. (Hình C).
  • Vị trí chọc kim là phần tổn thương lành tính, bỏ sót các tổn thương ác tính có kích thước nhỏ (Hình D)
  • Khi thực hiện FNA ở những mô sợi, lượng mẫu cần thiết có thể khó lấy được bởi các tế bào được giữ chặt trong mạng lưới các sợi collagen dày đặc (Hình E)

Những lý do khiến việc lấy mẫu không đạt yêu cầu (Orell & Sterrett’s Fine Needle Aspiration Cytology, Fifth edition, Elsevier )

 

  1. Tóm lại:

FNA là một phương tiện cận lâm sàng xâm lấn tối thiểu, cho kết quả nhanh, giá thành phù hợp, có thể được thực hiện dễ dàng tại phòng khám. Kết quả và độ chính xác của FNA là khá cao trong chẩn đoán và theo dõi các bệnh lý u và không u ở nhiều hệ cơ quan.

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top