✴️ Tạo hình thân đốt sống

Nội dung

Tổng quan

Tạo hình thân đốt sống qua da ngày càng được áp dụng rộng rãi là một kỹ thuật can thiệp tối thiểu, an toàn để điều trị đau do xẹp đốt sống điều trị bằng thuốc không hiệu quả.

Xẹp thân đốt sống (VF) dẫn đến vùng lưng đau nhiều và hạn chế vận động. Nhiều bệnh nhân có thể tăng tỉ lệ bệnh tật và giảm chất lượng cuộc sống sau khi bị đau lưng, bất động kéo dài, gù cột sống, bệnh về phổi, giảm hoặc mấy khả năng tự chăm sóc bản thân. Những bệnh nhân bị VF có nguy cơ cao bị đau lưng mạn tính cũng như tăng tỷ lệ tử vong.

Nguyên nhân phổ biến nhất của xẹp thân đốt sống là loãng xương. Các nguyên nhân khác có thể gặp gồm ung thư nguyên phát hoặc di căn, chấn thương, u máu, hoại tử vô khuẩn đốt sống. Hơn 700,000 bệnh nhân loãng xương có liên quan với VF được chẩn đoán mỗi năm ở Mỹ, dẫn đến khoảng 115,000 bệnh nhân phải nhập viện hàng năm. Trên toàn thế giới có khoảng 1,4 triệu người ảnh hưởng bởi xẹp thân đốt sống hàng năm; nguy cơ bị xẹp thân đốt sống cả cuộc đời ở nữ là 16% và ở nam là 5%.

Điều trị tiêu chuẩn trong đau do xẹp thân đốt sống bao gồm: điều trị bảo tồn, sử dụng thuốc giảm đau, nghỉ ngơi tại giường, đeo áo nẹp cố định ngoài. Triệu chứng có thể cải thiện sau 4-6 tuần; khoảng 2/3 bệnh nhân sẽ đáp ứng với điều trị bảo tồn đơn thuần. Tuy nhiên khoảng 1/3 bệnh nhân không đáp ứng sẽ được xem xét điều trị can thiệp.

Tạo hình thân đốt sống (VP- Vertebroplasty), mô tả đầu tiên bởi Galibert và cộng sự năm 1987, sau đó đã được áp dụng rộng rãi để điều trị xẹp thân đốt sống điều trị bảo tồn thất bại. Tạo hình thân đốt sống là một kỹ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu bao gồm bơm cement sinh học vào thân đốt sống vỡ để giảm đau và làm vững đốt sống vỡ. Cement được sử dụng rộng rãi nhất là polymethyl methacrylate (PMMA). Kyphoplasty tương tự tạo hình thân đốt sống về quy trình, phương pháp này sử dụng một quả bóng bơm vào thân đốt sống trước giúp giảm gãy vỡ và tạo một khoảng trống trong thân đốt sống cho phép cement bơm vào thân đốt sống vỡ an toàn hơn.

Chỉ định và chống chỉ định

Chỉ định:

  • Phổ biến nhất là đau lưng cấp và bán cấp ở bệnh nhân xẹp thân đốt sống thất bại sau 4-6 tuần điều trị thuốc giảm đau (mức độ đau giảm ít hoặc không giảm với thuốc giảm đau hoặc giảm đau không tương xứng ở người bị dị ứng hoặc có tác dụng phụ với thuốc giảm đau như buồn nôn, táo bón…)
  • Nguyên nhân phổ biến nhất của xẹp thân đốt sống là loãng xương. Một số nguyên nhân khác có thể gặp là bệnh lý di căn, đa u tủy xương, đau do u mạch máu xâm lấn.
  • Chỉ định ít gặp hơn như điều trị đau do hoại tử vô khuẩn xương đốt sống (bệnh Kummel), bệnh Paget, U tế bào Langerhans, xương thủy tinh, khớp giả cột sống, khí giữa các đốt sống, Schmorl nodes, có thể bơm cement trước khi phẫu thuật cố định cột sống.

Chống chỉ định:

  • Chống chỉ định tuyệt đối: Xẹp thân đốt sống không có triệu chứng, xẹp thân đốt sống cải thiện triệu chứng khi điều trị bảo tồn. không dùng để chỉ định điều trị dự phòng xẹp đốt sống ở bệnh nhân loãng xương; bệnh nhân bị rối loạn đông máu, nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân đang hoạt động, dị ứng với cement.
  • Chống chỉ định tương đối: vỡ tường sau của thân đốt sống, u xâm lấn vào ống sống, xẹp nặng thân đốt sống (xẹp > 2/3 chiều cao thân đốt sống), tạo hình thân đốt sống có bóng

Kỹ thuật tạo hình thân đốt sống được thực hiện như thế nào?

Tạo hình thân đốt sống được thực hiện tốt nhất nếu sử dụng đèn soi huỳnh quang chất lượng cao để chọc kim và bơm cement vào thân nên được thực hiện dưới đèn soi huỳnh quang liên tục. Mặc dù không lý tưởng, Carm di động có thể được sử dụng để tạo hình thân đốt sống. Đèn soi huỳnh quang 2 mặt nếu có thể có thể làm giảm thời giam của phẫu thuật. Trong một vài kỹ thuật và các trường hợp thay đổi có thể phối hợp CT huỳnh quang hoặc huỳnh quang thường quy có thể cần thiết.

Trước khi phẫu thuật cần có che chắn phóng xạ cẩn thận. Sử dụng kháng sinh tiêm với bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Mặc dù chưa có đồng thuận nào về việc sử dụng kháng sinh tĩnh mạch thường quy với các bệnh nhân không suy giảm miễn dịch. Các phẫu thuật viên vẫn thường sử dụng kháng sinh dự phòng trước mổ với các bệnh nhân của họ. Theo kinh nghiệm của tác giả có thể sử dụng 1g cefazolin 1 giờ trước phẫu thuật, ở bệnh nhân dị ứng với penicillin hoặc cefazolin có thể dùng 500mg vancomycin.

Tư thế bệnh nhân nằm sấp. Các miếng độn ở ngực và mào chậu có thể được sử dụng để cho bệnh nhân thoải mái và giảm độ cong của cột sống. Gây tê tại chỗ vào da, dưới da, ngoài màng xương bằng lidocain có thể sử dụng kim dài như kim chọc tủy sống. Có máy theo dõi mạch, huyết áp điện tim, SPO2 trong suốt quá trình phẫu thuật. Theo kinh nghiệm của các tác giả có thể sử dụng an thần tĩnh mạch và fentanyl trong phẫu thuật.

Ở đốt sống ngực và thắt lưng, VP thực hiện kinh điển bằng đường vào qua cuống hoặc cạnh cuống. Theo kinh nghiệm của tác giả cả 1 bên hoặc 2 bên qua cuống đều có thể được sử dụng. Kỹ thuật bơm 1 bên có thể giảm thời gian phẫu thuật, giảm sang chấn đến cơ và phần mềm cạnh sống nhưng cần có góc chếch lớn hơn và có thể bị che khuất bởi cuống sống.

 

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Bệnh viện Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

return to top