✴️ Đại cương động vật chân đốt (P1)

Nội dung

Động vật chân đốt là ngành động vật không có xương sống, có số lượng loài rất lớn, có khoảng trên 1.000.000 loài. Chúng sống ở đất, nước hoặc bay nhảy tự do trong không gian ở khắp nơi trên trái đất, sống tự do hoặc kí sinh.

Môn kí sinh trùng y học nghiên cứu về đặc điểm hình thể, sinh lí, sinh thái, vai trò y học và cách phòng chống những loài động vật chân đốt có liên quan đến y học như: ruồi, muỗi, ve, mò, bọ chét, chấy, rận...

Hình : Một số động vật chân đốt truyền bệnh ở người.

 

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ.

Cấu tạo bên ngoài:

Động vật chân đốt có cấu tạo chung:

Thân chia thành đầu, ngực, bụng rõ rệt hoặc đầu giả và thân.

Chân, râu (anten), pan (palpe) là những bộ phận có cấu tạo phân đốt, đối xứng.

Thân có vỏ cứng bao bọc (exoskeleton), lớp vỏ này cấu tạo bằng lớp kitin và một lớp hoà tan trong nước (arthropodin), được coi như là bộ xương của động vật chân đốt. Lớp vỏ này không liên tục, gián đoạn theo từng phần của cơ thể, nối liền hai mảnh cứng có một màng kitin mỏng, có thể co giãn được nhưng rất hạn chế, vì vậy muốn lớn lên động vật chân đốt phải lột xác. Lớp vỏ cứng này có chức năng giống như da bao bọc che chở các cơ quan bên trong, hạn chế sự mất nước, ngoài ra nó còn có chức năng giống như một bộ xương để các cơ bám vào đó tạo hình dạng của động vật chân đốt (hình 14.1, 14.2).

Phân giới đực và cái riêng biệt.

Hình : Hình thể bên ngoài muỗi và ve.

CẤU TẠO TRONG:

Hoàn thiện hơn ngành giun sán, các cơ quan tuần hoàn, bài tiết, tiêu hoá...   đã phát triển. Đặc biệt cơ quan sinh dục rất phát triển và tương đối hoàn thiện (hình 14.3, 14.4).

Hệ tiêu hoá:

Miệng động vật chân đốt là vòi để châm hút hoặc để gặm nhấm. Tiếp theo là họng, thực quản, dạ dày, ruột, hậu môn, có hai tuyến nước bọt giúp cho tiêu hoá được dễ dàng.

Hệ tuần hoàn:

Gồm có những xoang máu ở mặt lưng, máu từ các xoang này đổ vào các xoang rỗng ở toàn thân, máu không có nhiệm vụ vận chuyển oxy mà chỉ mang chất dinh dưỡng. "Máu" thực chất chỉ là dịch tuần hoàn lưu chuyển được nhờ một cơ quan bơm "máu" gọi là "tim".

Hình : Hình thể bên trong của ve.

Hình : Cấu tạo bên trong của muỗi.

1.Họng;  2. Thực quản;  3. Ống tuyến nước bọt;  5. Hạch ngực; 6.Điều; 7. Dạ dày; 8. Ruột sau; 9. Trực tràng; 10. Ống Manpighi.

Hệ thần kinh:

Là những hạch nối với nhau như dây xích ở bụng, cuối cùng được nối với một hạch to hơn ở mặt lưng, gần thực quản, được coi như "não" của động vật chân đốt.

Hệ hô hấp:

Động vật chân đốt thở bằng mang hoặc khí quản tùy loại sống trên cạn hoặc dưới nước.

  • Hệ cơ: thuộc loại cơ vân, bám trực tiếp vào mặt trong lớp vỏ kitin, để vận động bay, nhảy, bơi...
  • Hệ  bài tiết: là những ống Malpighi có chức năng bài tiết giống những ống thận đơn giản.
  • Hệ sinh dục: phát triển tương đối hoàn thiện.

Cơ quan sinh dục đực gồm: tinh hoàn, túi tinh, các tuyến phụ và càng sinh dục.

Cơ quan sinh dục cái gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, âm đạo, túi chứa tinh. Một số loài như chấy, rận... có tuyến tiết chất dính để gắn trứng vào với nhau hoặc bám lên tóc, quần áo...

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC.

Đặc điểm sinh thái:

Động vật chân đốt muốn tồn tại, phát triển cần những điều kiện thiên nhiên thích hợp: nguồn thức ăn, nơi trú ẩn, nơi sinh đẻ... Những điều kiện này phụ thuộc vào yếu tố lí, hoá, sinh học của môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ xốp của đất, các chất hữu cơ, pH, các muối hòa tan, tốc độ gió, động thực vật và yếu tố địa hình khu vực.

Nghiên cứu sinh thái của động vật chân đốt là nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa động vật chân đốt và những điều kiện của môi trường.

Nếu điều kiện thiên nhiên thích hợp, động vật chân đốt phát triển thuận lợi, số lượng tăng lên nhiều, nếu điều kiện thiên nhiên không thích hợp, số lượng ít đi. Hiện tượng tăng, giảm về số lượng cá thể gọi là mùa phát triển của động vật chân đốt. Mỗi loài động vật chân đốt thường phân bố trên từng khu vực nhất định gọi là vùng phân bố của động vật chân đốt.

Sự phát triển của động vật chân đốt chịu sự tác động của yếu tố mùa, vùng rõ rệt. Do đó những bệnh do động vật chân đốt truyền thường là những bệnh diễn biến theo mùa và vùng.

Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió, mưa đều có tác động đến sinh thái của động vật chân đốt. Khí hậu có thể tạo điều kiện thuận lợi cho động vật chân đốt phát triển, hoạt động với mức độ cao. Điều kiện tối thiểu chỉ giúp cho động vật chân đốt sinh tồn nhưng khó phát triển và hoạt động. Trong những tháng rét lạnh, nhiều động vật chân đốt có khả năng vượt đông để duy trì cuộc sống nhưng không vận động hoặc không phát triển đáng kể.

Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với quần thể sinh vật: động vật chân đốt sống ở ngoại cảnh nhất thiết phải quần sinh với một số sinh vật khác, ở đó động vật chân đốt tránh những yếu tố không thuận lợi và tìm đến những yếu tố thuận lợi. Ví dụ: ruồi, nhặng sống gần người và dựa vào những chất thải như phân, rác của người.

Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với các yếu tố bất lợi:

Động vật chân đốt có khả năng thích nghi để đối phó lại những yếu tố chống lại chúng bằng cách tìm môi trường khác sống thuận lợi hơn.

Khi thiếu vật chủ thích hợp, động vật chân đốt có thể tạm thời kí sinh ở những vật chủ không thích hợp.

Những can thiệp của con người (dùng các biện pháp xua, diệt động vật chân đốt) cũng có thể dần dần làm thay đổi sinh thái của động vật chân đốt, chúng không những không chịu tiếp xúc với hóa chất mà còn có thể chuyển hoá những hóa chất đó để tạo nên sự  quen hoặc sức đề kháng với hóa chất.

Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với các yếu tố chống lại chúng có thể tạo nên những biến động sinh thái của động vật chân đốt. Vì vậy, đòi hỏi phải có những biện pháp chống động vật chân đốt tận gốc như cải tạo môi trường và ngoại cảnh, nhân giống những động vật có khả năng diệt động vật chân đốt.

Đặc điểm sinh lí:

Thức ăn của động vật chân đốt rất đa dạng: máu, mủ, dịch mô hay các tổ chức bị giập nát của vật chủ. Có loài động vật chân đốt chỉ kí sinh trên một vật chủ được gọi là loài “đơn thực”. Ví dụ: chấy, rận chỉ kí sinh ở trên người, thức ăn chỉ là máu người, không ăn máu các loài động vật khác. Có loài động vật chân đốt kí sinh trên nhiều loài vật chủ, có thể là người hoặc các loài động vật khác, đó là loài “đa thực”. Ví dụ: bọ chét Xenopsylla cheopis kí sinh cả trên người, cả trên chuột, chó, mèo...

Loài đơn thực chỉ truyền bệnh trong từng loài vật chủ, loài đa thực truyền bệnh cho nhiều loài vật chủ khác nhau. Ví dụ: chấy, rận chỉ truyền bệnh cho người, bọ chét truyền bệnh cho cả người và chuột...

Vòng đời:

Vòng đời động vật chân đốt thường phát triển qua 4 giai đoạn: trứng (eggs) - ấu trùng (larvae) - thanh trùng (nympha) - trưởng thành (imago). Đây là loại vòng đời thường gặp trong thiên nhiên như vòng đời của muỗi, ve, mò...

Có một số loài động vật chân đốt đẻ ra ấu trùng không có giai đoạn trứng, như một số ruồi (Glossina), nhặng xám (Sarcophagidae)... những loài này mỗi lần đẻ không nhiều, từ 1 đến 15 ấu trùng.

Ở giai đoạn thanh trùng, một số loài hình thành nhộng (pupa) không ăn, không hoạt động, như ruồi (Muscidae), ruồi vàng (Simulidae)...

 

VAI TRÒ Y HỌC.

Những động vật chân đốt có vai trò y học phần lớn là những ngoại kí sinh trùng hút máu (trừ ruồi nhà, gián), chúng có thể truyền bệnh và gây bệnh. Vai trò chủ yếu của chúng là truyền bệnh, vai trò gây bệnh chỉ là thứ yếu nhưng đôi khi cũng gây nguy hiểm đến tính mạng con người.

Vai trò gây bệnh:

Gây bệnh tại vết đốt và dị ứng: động vật chân đốt khi hút máu truyền độc tố gây đau, dị ứng, mẩn ngứa, lở loét, hoại tử (mò đốt), nặng hơn có thể viêm tấy cục bộ, choáng, tê liệt (bọ cạp hoặc ve đốt).

Gây bệnh tại vị trí kí sinh: bọ chét Tunga kí sinh ở da, ấu trùng ruồi Gasterophilidae kí sinh ở dạ dày, cái ghẻ Sarcoptes scabiei kí sinh ở da...

Vai trò truyền bệnh:

Bệnh do động vật chân đốt truyền gọi là bệnh có vật môi giới (vector), có đặc điểm:

  • Thường là những bệnh nguy hiểm, có thể chết người: dịch hạch, sốt rét...
  • Bệnh phát thành dịch, lây lan nhanh: sốt xuất huyết, viêm não B Nhật Bản...
  • Bệnh thường xảy ra theo mùa, khu trú ở từng địa phương: viêm não, sốt mò...
  • Bệnh lây lan giữa người với người, giữa người với động vật.

Tiêu chuẩn xác định động vật chân đốt là vector truyền bệnh:

  • Động vật chân đốt phải hút máu người hoặc sống gần người.
  • Mầm bệnh phát triển trong động vật chân đốt đến giai đoạn lây nhiễm.
  • Mùa phát triển của động vật chân đốt phù hợp với mùa của bệnh.
  • Gây nhiễm thực nghiệm có kết quả.

Phương thức truyền bệnh của động vật chân đốt:

Động vật chân đốt truyền bệnh theo hai phương thức: đặc hiệu và không đặc hiệu.

Truyền bệnh đặc hiệu (truyền sinh học): trong thiên nhiên nhiều loại động vật chân đốt chỉ truyền được một hoặc hai loại mầm bệnh nhất định, những mầm bệnh này tăng sinh, phát triển ở động vật chân đốt. Các hình thức phát triển hoặc tăng sinh của mầm bệnh ở động vật chân đốt:

Mầm bệnh trong động vật chân đốt tăng sinh đơn thuần về số lượng từ một mầm bệnh ban đầu sau một thời gian tăng lên hàng ngàn cá thể trong động vật chân đốt như vi khuẩn dịch hạch trong bọ chét.

Mầm bệnh không tăng sinh về số lượng chỉ phát triển từ giai đoạn chưa lây nhiễm được đến giai đoạn có khả năng lây nhiễm. Ví dụ: ấu trùng giun chỉ trong muỗi.

Mầm bệnh vừa tăng sinh số lượng vừa phát triển giai đoạn như kí sinh trùng sốt rét trong muỗi.

Ngoài ra còn có một vài loại mầm bệnh được động vật chân đốt truyền cho đời sau qua trứng như mầm bệnh Rickettsia orientalis ở mò...

Do quá trình biến đổi trong cơ thể động vật chân đốt, mầm bệnh muốn truyền được sang người hoặc sang vật chủ khác cần phải có thời gian. Thời gian này phụ thuộc vào từng loại mầm bệnh và nhiệt độ của môi trường.

Ví dụ: Plasmodium falciparum muốn phát triển được trong muỗi, nhiệt độ của môi trường phải lớn hơn 160C, Plasmodium vivax phải trên 14,50C.

Truyền bệnh không đặc hiệu (truyền cơ học): động vật chân đốt chỉ đơn thuần mang mầm bệnh từ nơi này đến nơi khác.

Mầm bệnh dính bám trên động vật chân đốt, truyền vào thức ăn, nước uống của người, mầm bệnh không sinh sản, biến đổi trong động vật chân đốt nên không cần có thời gian. Những động vật chân đốt truyền bệnh theo phương thức không đặc hiệu có vai trò quan trọng (ruồi nhà, nhặng xanh, gián...) vì thường xuyên tiếp xúc với người.

Mầm bệnh còn có thể ở trong ống tiêu hoá của động vật chân đốt, rồi theo chất bài tiết mà lây sang người. Một số mầm bệnh như trứng giun, sán, kén đơn bào có thể tồn tại trong cơ thể động vật chân đốt suốt trong quá trình sống của nó. Tác hại của phương thức này rất lớn.

Khả năng truyền bệnh của động vật chân đốt:

Động vật chân đốt có thể truyền hầu hết các loại mầm bệnh kí sinh trùng, vi khuẩn, virut cho người và động vật:

Muỗi Anopheles truyền kí sinh trùng sốt rét, giun chỉ. Ví dụ: An.minimus và An.dirus là những vector chính truyền sốt rét ở Việt Nam, tập trung ở một số vùng sốt rét trọng điểm như vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên...

Muỗi Culex truyền giun chỉ, viêm não B Nhật Bản...

Muỗi Aedes truyền bệnh sốt vàng, sốt xuất huyết Dengue, giun chỉ, và một số virus khác.

Muỗi Mansonia truyền giun chỉ. Ở Việt Nam một số vùng có ổ dịch giun chỉ như các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng: Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương..., một số tỉnh duyên hải miền Trung: Khánh Hoà, Quảng Bình…

Muỗi cát Phlebotomus truyền Leishmania (ở Việt Nam đã phát hiện bệnh nhân mắc Leishmania: Hải Dương, Quảng Ninh…).

Ve truyền Rickettsia và virus viêm não châu Âu.

Mò truyền Rickettsia orientalis gây bệnh sốt mò, Việt Nam có ổ bệnh sốt mò ở Mộc Châu, Sơn La.

Ruồi ngủ Tsetse (Glossina) truyền Trypanosoma gây bệnh ngủ châu Phi. Ruồi vàng (Simulium) truyền bệnh mù đường sông. Ruồi trâu (Tabanidae) truyền giun chỉ Loa loa. Những bệnh này chưa gặp ở Việt Nam.

Ruồi nhà, nhặng, gián truyền mầm bệnh vi khuẩn: tả, lị, thương hàn, lao, trứng giun sán, kén đơn bào, virut bại liệt, viêm gan... trong các vụ dịch tả, ruồi nhà có vai trò truyền bệnh rất quan trọng.

Chấy rận truyền sốt phát ban chấy rận.

Bọ chét truyền dịch hạch, ở Việt Nam có bọ chét Xenopsylla cheopis truyền dịch hạch, đã phát hiện được một số ổ dịch nhỏ ở Tây Nguyên.

Vai trò của động vật chân đốt trong ổ bệnh thiên nhiên:

Động vật chân đốt có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và lưu hành của những bệnh có ổ bệnh thiên nhiên. Động vật chân đốt là vật môi giới (vector) nhiều khi còn là vật dự trữ mầm bệnh: mò Leptotrombidium deliense mang mầm bệnh sốt mò Rickettsia orientalis suốt đời và truyền sang đời sau.

Do mầm bệnh phát triển trong động vật chân đốt, nên mùa phát triển bệnh phụ thuộc vào mùa phát triển của động vật chân đốt. Ví dụ: mầm bệnh virus viêm não Nhật Bản B chỉ phát triển trong muỗi khi nhiệt độ trên 200C, mùa phát triển là mùa xuân - hè, ít gặp trong mùa đông. Vật môi giới là những động vật chân đốt hút máu đảm bảo sự truyền mầm bệnh từ động vật này sang động vật khác.

Xem tiếp: Đại cương động vật chân đốt (P2)

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top