Nhãn cầu có hình cầu, nằm trong 1 hốc xương (ổ mắt). Chiều dài trục nhãn cầu ở người trưởng thành khoảng 22 - 24mm
.png)
1 Vỏ bọc nhãn cầu
Vỏ bọc nhãn cầu gồm:
- Giác mạc: Là 1 lớp màng trong suốt, rất dai, không có mạch máu, có hình chỏm cầu, chiếm 1/5 phía trước vỏ nhãn cầu. Giác mạc có đường kính khoảng 11mm, bán kính độ cong là 7.7mm, chiều dày ở vùng rìa là 1mm, ở trung tâm là 0.5mm, công suất khúc xạ khoảng 45D. Giác mạc có các lớp tính từ ngoài vào trong gồm: Biểu mô, màng Bowman, nhu mô, nội mô. Giác mạc được nuôi dưỡng nhờ nước mắt, thủy dịch và thẩm thấu từ các mạch máu quanh rìa;
- Củng mạc: Là 1 mô xơ rất dai, màu trắng và chiếm 4/5 phía sau nhãn cầu. Củng mạc được cấu tạo từ nhiều lớp băng xơ dày, đan chéo nhau vững chắc, có nhiệm vụ bảo vệ các màng và các môi trường bên trong. Độ dày của củng mạc tùy theo từng vùng: Dày nhất ở vùng cực sau (1 - 1.35mm), mỏng nhất ở chỗ bám của các cơ trục (0.3mm). Cực sau củng mạc có 1 lỗ thủng với đường kính 1.5mm, che lỗ thủng là lá sàng với nhiều lỗ nhỏ cho phép các sợi thần kinh thị giác đi qua.
2 Màng mạch
Màng mạch (màng bồ đào) gồm 3 phần: Mống mắt, thể mi và hắc mạc. Mống mắt + thể mi được gọi là màng bồ đào trước, hắc mạc được gọi là màng bồ đào sau. Trong giải phẫu mắt, màng bồ đào có nhiệm vụ nuôi dưỡng nhãn cầu, điều hòa nhãn áp.
Màng bồ đào gồm:
- Mống mắt: Có hình đồng xu thủng ở giữa, mặt trước là giới hạn sau của tiền phòng, có màu xanh, đen hoặc nâu tùy chủng tộc. Mặt sau mống mắt có màu nâu sẫm đồng nhất, là giới hạn trước của hậu phòng. Giữa mống mắt có 1 lỗ tròn (đồng tử). Về mô học, mống mắt gồm 3 lớp chính: Lớp nội mô ở mặt trước, lớp đệm, lớp biểu mô ở mặt sau. Mống mắt có vai trò chính là điều chỉnh lượng ánh sáng tới võng mạc (thông qua việc thay đổi kích thước đồng tử);
- Thể mi: Là phần nhô lên của màng bồ đào, nằm ở giữa mống mắt và hắc mạc. Thể mi có vai trò điều tiết giúp mắt nhìn rõ những vật ở gần, tiết ra thủy dịch (nhờ các tế bào ở tua mi). Thể mi nằm khuất sau mống mắt là 1 dải hình tròn không đều. Nhìn từ phía sau, thể mi có 2 phần: Phần sau (vòng cung thể mi) và phần trước (vành thể mi). Về tổ chức học, từ ngoài vào trong thể mi có các lớp: Lớp trên thể mi, lớp cơ thể mi, lớp mạch máu, lớp màng kính, lớp biểu mô sắc tố, lớp biểu mô thể mi và lớp giới hạn trong;
- Hắc mạc: Là 1 màng liên kết lỏng lẻo, nằm giữa củng mạc và võng mạc. Hắc mạc có nhiều mạch máu và các tế bào sắc tố đen, làm nhiệm vụ nuôi nhãn cầu, biến lòng nhãn cầu trở thành 1 buồng tối, giúp hình ảnh được hiển thị rõ nét trên võng mạc. Về tổ chức học, từ ngoài vào trong hắc mạc gồm 3 lớp: Lớp thực hắc mạc, lớp hắc mạc chính danh, lớp màng Bruch.
Mạch máu và thần kinh của màng bồ đào theo giải phẫu mắt gồm:
- Động mạch: Màng bồ đào có 2 hệ thống là: Động mạch mi ngắn sau (gồm khoảng 20 động mạch) và động mạch mi dài sau (có 2 động mạch);
- Tĩnh mạch: Máu từ màng bồ đào đi theo các tĩnh mạch nhỏ, dồn về 4 tĩnh mạch lớn, đi ra ngoài nhãn cầu, theo tĩnh mạch mắt chảy vào xoang tĩnh mạch hang;
- Bạch huyết: Màng bồ đào không có;
- Thần kinh: Gồm sợi thần kinh mi dài và sợi thần kinh mi ngắn.
.png)
3 Võng mạc
Võng mạc còn được gọi là màng thần kinh, nằm trong lòng màng bồ đào. Đây là nơi tiếp nhận các kích thích ánh sáng từ ngoại cảnh, truyền về trung khu phân tích thị giác ở vỏ não.
Về hình thể, võng mạc gồm 2 phần: Võng mạc cảm thụ và võng mạc vô cảm, nằm cách rìa giác mạc khoảng 7 - 8mm. Trung tâm võng mạc (tương ứng với cực sau nhãn cầu) là 1 vùng có màu sáng nhạt (hoàng điểm). Chính giữa hoàng điểm có 1 hố nhỏ lõm xuống (hố trung tâm). Cách hoàng điểm 3.4 - 4mm về phía mũi là gai thị - điểm khởi đầu của dây thần kinh thị giác. Gai thị có hình tròn hoặc bầu dục, đường kính khoảng 1.5mm, màu hồng nhạt, ranh giới rõ với xung quanh.
Về cấu trúc, võng mạc có 4 lớp tế bào: Lớp biểu mô sắc tố, lớp tế bào thị giác, lớp tế bào 2 cực, lớp tế bào hạch (tế bào đa cực).
Mạch máu của võng mạc:
- Động mạch trung tâm võng mạc: Là 1 nhánh xuất phát từ động mạch mắt, chạy tới nhãn cầu, cách cực sau nhãn cầu khoảng 10mm thì chui vào thị thần kinh, đi tới võng mạc;
- Tĩnh mạch: Thường đi kèm song song với động mạch.
4 Tiền phòng và hậu phòng
Khi giải phẫu mắt, không thể không đề cập tới tiền phòng và hậu phòng.
- Tiền phòng: Là 1 khoang nằm giữa giác mạc ở phía trước, mống mắt và thể thủy tinh nằm phía sau, bên trong chứa đầy thể dịch. Phần trung tâm tiền phòng là sâu nhất (khoảng 3 - 3.5mm), càng gần rìa thì độ sâu càng giảm dần. Góc tiền phòng ở cạnh rìa ngoài được giới hạn bởi giác mạc - củng mạc ở phía trước, mống mắt - thể mi ở phía sau. Góc tiền phòng có vai trò quan trọng về sinh lý và phẫu thuật. Góc tiền phòng có những thành phần gồm: Vòng Schwalbe, Trabeculum, ống Schlemm, cựa củng mạc, dải thể mi, chân mống mắt;
- Hậu phòng: Khoang hậu phòng có giới hạn trước là mặt sau mống mắt, giới hạn sau là mặt trước của màng dịch kính. Hậu phòng được thông với tiền phòng qua lỗ đồng tử. Bên trong hậu phòng chứa thủy dịch như tiền phòng.
5 Các môi trường trong suốt
Các môi trường trong suốt bên trong nhãn cầu gồm:
- Thủy dịch: Là 1 chất lỏng trong suốt do thể mi tiết ra, chứa đầy bên trong tiền phòng và hậu phòng. Thành phần thủy dịch gồm nước, albumin, globulin, glucose, axit amin,... Thủy dịch có vai trò là yếu tố tác động đến nhãn áp, cung cấp dinh dưỡng cho thể thủy tinh, góp phần nuôi dưỡng giác mạc;
- Thể thủy tinh: Là 1 thấu kính trong suốt, 2 mặt lồi, được treo cố định vào vùng thể mi nhờ các dây Zinn. Độ dày của thể mi khoảng 4mm, đường kính 8 - 10mm, bán kính độ cong mặt trước là 10mm, mặt sau là 6mm, công suất quang học khoảng 20 - 22D. Thể thủy tinh có 2 mặt trước và mặt sau, gặp nhau ở xích đạo. Thể thủy tinh gồm 3 phần: Màng bọc, biểu mô dưới màng bọc và các sợi của thể thủy tinh. Thể thủy tinh không có mạch máu và thần kinh, được nuôi dưỡng nhờ thẩm thấu có chọn lọc từ thủy dịch. Thể thủy tinh có vai trò quan trọng đối với hệ thống khúc xạ, giúp hội tụ đúng tiêu điểm ảnh trên võng mạc khi nhìn xa, giúp mắt nhìn rõ những vật ở gần (nhờ sự điều tiết);
- Dịch kính: Là 1 chất lỏng như lòng trắng trứng, nằm sau thể thủy tinh, chiếm toàn bộ phần sau nhãn cầu. Thành phần chính của dịch kính là 1 protein cấu trúc dạng sợi (Vitrêin), có axit hyaluronic lấp đầy trong các khoang giữa các sợi.