✴️ Chẩn đoán và điều trị u màng não

Nội dung

Xem lại: Tổng quan về u màng não

Chẩn đoán u màng não

Có nhiều lý do khiến cho việc chẩn đoán u màng não gặp nhiều khó khăn. Phần lớn các u màng não phát triển chậm và hầu hết chỉ gặp ở người trưởng thành, nên triệu chứng có thể không rõ ràng khiến cho bệnh nhân/bác sĩ lầm tưởng rằng đó là những dấu hiệu bình thường của tuổi tác. Bên cạnh đó một vài triệu chứng đi kèm với u màng não cũng có thể do các bệnh lý khác. Việc chẩn đoán sai không hiếm gặp, và thực tế là có thể mất nhiều năm mới có thể ra được chẩn đoán chính xác.

Khi một bệnh nhân xuất hiện triệu chứng rối loạn tâm thần kinh tăng dần, co giật mới khởi phát hoặc đau đầu kéo dài, hoặc nếu như có bằng chứng tăng áp lực nội sọ (như : nôn ói, phù đĩa thị giác), bước đầu tiên cần làm là phải thăm khám hệ thần kinh một cách toàn diện kỹ lưỡng, kèm với các xét nghiệm hình ảnh học nếu cần thiết.

Các kỹ thuật hình ảnh học như CT, MRI là một công cụ đắc lực hỗ trợ việc chẩn đoán. MRI trong mổ cũng được dùng để hướng dẫn sinh thiết và bóc tách u. Cộng hưởng từ phổ (MRS) được dùng để đánh giá đặc điểm hóa học của u và xác định bản chất của u phát hiện trên MRI.

Đôi khi, cách duy nhất để có được chẩn đoán xác định u màng não là thông qua sinh thiết u. Bác sĩ phẫu thuật thần kinh sẽ thực hiện sinh thiết, và nhà giải phẫu bệnh đưa ra chẩn đoán cuối cùng, quyết định bản chất u là lành hay ác, đồng thời phân độ tế bào u.

Điều trị u màng não

Phẫu thuật

U màng não thường lành tính, hầu hết có giới hạn rõ, dễ dàng cho việc bóc u hoàn toàn, cho khả năng trị khỏi cao. Bác sĩ phẫu thuật thần kinh sẽ mở sọ để có thể tiếp cận u. Mục đích của cuộc phẫu thuật là nhằm loại bỏ u hoàn toàn, kể cả các mô sợi đính u vào xương và não. Tuy nhiên, việc bóc u hoàn toàn có thể đem lại nguy cơ đáng kể, nhất là khi u đã xâm lấn nhu mô não hay các tĩnh mạch não xung quanh. Mặc dù mục đích chính của việc phẫu thuật là loại bỏ u, ưu tiên hàng đầu vẫn là bảo tồn hoặc cải thiện chức năng thần kinh cho bệnh nhân.

Với những bệnh nhân mà việc bóc u hoàn toàn có thể đem lại nguy cơ tàn tật đáng kể (bất kỳ biến chứng nào có thể gây giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh), có thể tốt hơn hết là ở vài vị trí khó lấy và theo dõi sự phát triển của u bằng các xét nghiệm hình ảnh học định kỳ. Trong những trường hợp đó, bệnh nhân sẽ được theo dõi một thời gian với tái khám và MRI, hoặc xạ trị ở một số bệnh nhân. Việc thuyên tắc u trước mổ cũng khá phổ biến, giúp đảm bảo an toàn cho cuộc mổ. Thủ thuật thuyên tắc u cũng tương tự như việc chụp mạch não, ngoại trừ việc phẫu thuật viên sẽ bơm chất keo vào mạch máu để tắc các nhánh mạch máu nuôi u

Theo dõi

Theo dõi có thể là quyết định điều trị phù hợp với một số bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

  • Bệnh nhân ít triệu chứng lâm sàng hoặc không phù nhu mô não lân cận.
  • Bệnh nhân có triệu chứng nhẹ, với bệnh sử u màng não kéo dài nhưng không hoặc ít ảnh hưởng đến chất lượng sống
  • Bệnh nhân lớn tuổi, triệu chứng diễn tiến chậm
  • Bệnh nhân mà việc điều trị đem lại nhiều nguy cơ
  • Bệnh nhân không đồng ý phẫu thuật sau khi đã được đưa ra các lựa chọn điều trị khác

Xạ trị

Xạ trị liệu dùng tia X năng lượng cao để giết các tế bào ung thư và các tế bào não bất thường, và làm teo khối u. Xạ trị có thể là một lựa chọn trong trường hợp u không thể điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật.

  • Xạ trị ngoài tiêu chuẩn: dùng nhiều loại tia để xây dựng bản đồ xạ trị, giảm liều tia đến các cấu trúc bình thường lân cận. Nguy cơ tổn thương do xạ trị lâu dài với các phương tiện điều trị hiện đại là rất thấp. Các phương tiện xạ trị hiện đại có thể kể ra như 3-dimensional conformal radiotherapy (3DCRT), ntensity-modulated radiotherapy (IMRT).
  • Tia proton: chùm tia proton hướng thẳng vào u. Ưu điểm là ít tế bào bình thường bên cạnh u chịu tổn thương
  • Xạ trị lập thể (Như Gamma Knife, Novalis, Cyberknife): kỹ thuật hội tụ nhiều chùm tia vào một mục tiêu cố định. Kỹ thuật này ít gây ảnh hưởng đến mô lân cận u. Hiện tại, chưa có đủ dữ liệu để cho rằng kỹ thuật nào là ưu thế hơn trong dự hậu lâm sàng của bệnh nhân. Mỗi loại đều có ưu và nhược điểm riêng.

Hóa trị

Hóa trị hiếm khi được sử dụng trong điều trị u màng não, ngoại trừ u không điển hình hoặc u ác tính mà không thể điều trị hiệu quả hoàn toàn với phẫu thuật và/hoặc xạ trị.

Dự hậu

Độ tuổi của bệnh nhân lúc được chẩn đoán u là một trong những yếu tố dự hậu quan trọng. Nói chung, tuổi càng trẻ thì tiên lượng càng tốt. Một yếu tố tiên lượng tốt khác đó là u được loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng khả thi tùy thuộc vào vị trí của u. Dữ liệu từ Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ cho rằng tỷ lệ sống 5 năm của u màng não nói chung là 69%. U màng não lành tính có tỷ lệ sống 5 năm là 70%, trong khi với u ác tính là 55%.

Có thể bạn quan tâm: Nghiên cứu mới cho thấy các vùng não giúp tăng cường sự kiên nhẫn, kiểm soát xung động

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top