✴️ Môi trường vi sinh – tổng quan và phân loại

Nội dung

Trên Thế giới, có hàng triệu cuộc xét nghiệm diễn ra mỗi ngày, nó có thể là xét nghiệm máu, nước tiểu, dịch, mô; xét nghiệm bệnh lý trên thủy sản, thực vật… Để xác định xem loại vi khuẩn, nấm mốc nào đang gây hại cho chủ thể thì họ cần phân lập và nuôi nó trên môi trường xác định ( môi trường vi sinh).

Môi trường vi sinh là gì?

Môi trường vi sinh hay còn gọi là môi trường nuôi cấy vi khuẩn, là môi trường sinh trưởng được sử dụng để nuôi cấy vi khuẩn. Nó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của vi khuẩn, nấm mốc; chúng hoàn toàn có sống bên ngoài chủ thể với môi trường này.

Các loại môi trường vi sinh

Môi trường vi sinh cơ bản ( general purpose media)

Chúng thường chứa nguồn carbon, năng lượng (thường là glucose), muối, axit amin và vitamin. Các nguyên liệu thô phức tạp khác nhau (chẳng hạn như peptone, chiết xuất thịt, và chiết xuất nấm men- Yeast) được sử dụng trong việc chuẩn bị các môi trường này. Các môi trường này hỗ trợ sự phát triển của các vi sinh vật khác nhau. Các môi trường đa dụng hơn được sử dụng để liệt kê và phân lập một số loại vi sinh vật nhất định ví dụ như: Nutrient broth/agar, tryptose soy broth/agar, brain heart infusion broth/agar, và Sabouraud dextrose broth/agar.

Môi trường kỵ khí (Anaerobic media)

Một số vi khuẩn kị khí có thể chịu đựng được ở môi trường không hoặc chứa ít oxy. Một chất khử (chẳng hạn như natri thioglycolat) được thêm vào môi trường sẽ loại bỏ oxy và tạo ra môi trường khử. Chất khử kết hợp hóa học với oxy hòa tan trong môi trường và làm cho vi sinh vật không thể sử dụng được. Trong quá trình chuẩn bị môi trường kỵ khí, chúng được đun sôi để loại bỏ hầu hết oxy hòa tan. Ví dụ các môi trường như: Thioglycolate medium, cooked meat medium, tryptic soy anaerobic medium

Môi trường vận chuyển ( transport media)

Chúng được sử dụng trong quá trình vận chuyển các chất nuôi cấy đến phòng thí nghiệm. Môi trường vận chuyển lý tưởng duy trì khả năng tồn tại của vi sinh vật mà không làm thay đổi số lượng của chúng. Chúng thường chỉ chứa chất đệm và muối cho vi sinh vật cụ thể. Việc thiếu cacbon, nitơ và các hợp chất hữu cơ trong môi trường ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật. Môi trường vận chuyển được sử dụng cho vi khuẩn kỵ khí phải không có oxy phân tử. Ví dụ như: Amies media, aerobic transport media, và anaerobic transport media

Môi trường tăng sinh ( enrich media)

Chúng chứa các chất dinh dưỡng để hỗ trợ sự phát triển của nhiều loại vi sinh vật. Môi trường tăng sinh cung cấp cả tác nhân hóa học và vật lý để tăng số lượng vi sinh vật. Không có tác nhân ức chế nào được sử dụng để ngăn chặn sự phát triển của các vi sinh vật không mong muốn. Môi trường tăng sinh như enriched broth, selenite broth, và Gram-negative broth. Sau khi tăng sinh xong, các vi sinh vật cần thiết có thể được phân lập bằng kỹ thuật nuôi cấy khác.

Môi trường chọn lọc (Selective media)

Chúng cho phép một số loại vi sinh vật phát triển do không có một số chất dinh dưỡng quan trọng trong môi trường khiến nó không thuận lợi cho hầu hết các vi sinh vật, các chất ức chế trong môi trường ngăn chặn sự phát triển của các vi sinh vật không mong muốn và cung cấp các chất hỗ trợ phân lập và nhận dạng nhanh chóng cho vi sinh vật bằng cách ức chế sự phát triển của các vi sinh vật không mong muốn. Chất ức chế được thêm vào môi trường có thể là muối, axit, thuốc nhuộm, kháng sinh (ví dụ, streptomycin, kanamycin, chloramphenicol và gentamicin) và những chất khác. Ví dụ như môi trường PDA nuôi được nấm vì nó có pH thấp 5,6 và nồng độ glucose cao.

Crystal violet hoặc brilliant green dye được thêm vào để ức chế sự phát triển của vi khuẩn Gram dương mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn Gram âm. Mặt khác, thạch phenylethanol ức chế sự phát triển của vi khuẩn Gram âm, nhưng không ức chế được vi khuẩn Gram dương.

Các chất kháng sinh được thêm vào một số môi trường để làm cho chúng có tính chọn lọc đối với các vi sinh vật kháng lại các chất kháng khuẩn này, chẳng hạn như Salmonella-Shigella agar và CIN agar.

Môi trường biệt hóa (Differential media)

Chúng chứa các chất làm cho màu sắc của các cụm khuẩn lạc. Nhờ môi trường này mà ta có thể phân biệt được chủng này và chủng kia trên cùng một đĩa nuôi cấy. Ví dụ, nếu một hỗn hợp vi khuẩn được cấy vào thạch máu, một số vi khuẩn có thể tạo ra các enzym làm tan máu hồng cầu, đối với vùng tan máu xung quanh các khuẩn lạc và những vi khuẩn khác có thể không. Dựa vào sự hình thành vùng rõ ràng (tán huyết), người ta có thể phân biệt giữa vi khuẩn tan máu và vi khuẩn không tan máu. Ví dụ như blood agar và starch agar.

Môi trường chọn lọc/biệt hóa (Selective/Differential media)

Chúng đều có cả hai đặc tính của môi trường chọn lọc và biệt hóa. Chúng phân biệt các vi sinh vật tùy thuộc vào tác nhân chọn lọc và sự xuất hiện trên / trong môi trường. Eosin-methylene blue agar chứa một đường (lactoza) và một chất nhuộm màu (xanh eosin-metylen) chuyển sang màu đỏ khi pH giảm xuống dưới 6,8. Bất kỳ vi sinh vật nào có thể lên men lactose sẽ tạo ra một loại axit làm giảm độ pH và làm cho khuẩn lạc chuyển sang màu đỏ với ánh kim khi có thuốc nhuộm. Các vi sinh vật không sử dụng được lactose sẽ tạo ra các khuẩn lạc không màu. Các ví dụ khác của môi trường này là Mannitol salt agar và MacConkey’s agar.

Môi trường phân tích ( Assay media)

Chúng được sử dụng để phát hiện nồng độ của chất (chẳng hạn như kháng sinh và vitamin). Ví dụ, thạch Mueller-Hinton và môi trường xét nghiệm vitamin có thể được sử dụng để xác định tính nhạy cảm của vi sinh vật với kháng sinh và mức độ sản xuất vitamin tương ứng

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top