✴️ Vị thuốc Rau câu

Nội dung

1. Mô tả

Loài rong hình trụ tròn, mảnh, chia nhánh theo kiểu mọc chuyền, chạc đôi hoặc chùm cao 20 — 30cm, có khi hơn. Gốc tản có bàn bám dạng đĩa. Cấu tạo trong gồm lõi là trục chính được hình thành bởi những tế bào tương đối lớn, xung quanh có một hoặc vài hàng tế bào vây trụ. Phần biểu bì gồm 2-4 hàng tế bào liên kết chặt chẽ với nhau, nhỏ dần về phía ngoài. Bào tử quả màu đỏ tươi.

2. Phân bố, sinh thái

Rau câu phân bố chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới. Ở Việt Nam, rau câu có rải rác từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Cây cũng gặp nhiều ở xung quanh các đảo lớn. Gần đây, ngành thủy sản đã nuôi trồng thành công loại hải sản này để xuất khẩu.

Rau câu thường mọc bám trên đá hoặc trên các thực vật biển khác ở vùng triều. Ở những nơi ít sóng to, rau câu mọc lên từ cát hay đất phù sa pha cát ở các cửa sông. Là một loại tảo có cấu tạo dạng sợi phân nhánh nhiều, rất khó phân biệt được thân với các thể nhánh. Rau câu có hệ thống rễ mút bám chặt vào giá thể, để hút các chất dinh duỡng nuôi cây. Các tế bào diệp lục sắp xếp đều xung quanh sợi tảo giúp cho rau câu thực hiện quá trình quang hợp phức tạp ngay trong lớp nước biển nông. Rau câu đẻ nhánh rất khoẻ, các nhánh con là nguồn giống để trồng.

Rau câu là một nguồn lợi của biển, có nhiều chấi dinh dưỡng nên thường được dùng để ăn. Ngoài ra, rau câu là nguồn nguyên liệu agar sử dụng nhiều trong y tế và công nghệ sinh học.

3. Bộ phận dùng

Toàn cây rau câu, thu hái từ tháng 3 đến tháno 10. Hái về, loại bỏ tạp chất (đất cát, vỏ sò, ốc), rửa bằng nước sạch, phơi nắng nhiều ngày cho trắng.

Rau câu là nguyên liệu chế thạch (agar). Cách chế biến như sau: nấu rau câu với nước sạch (cứ 1kg rau câu dùng 55 – 60kg nước) ở nhiệt độ 80 – 100°c thạch sẽ tan trong nước lọc, để nguội. Ở nhiệt độ 35 – 50°c, nước đông lại thành thạch, cắt thạch thành thỏi hoặc ép qua bàn ép có lỗ để được thạch hình sợi.

Có thể chế thạch theo phương pháp công nghiệp với quy trình sau: chiết xuất rau câu bằng nước nóng lọc tẩy trắng bằng than, lọc qua bàn ép, làm khô và thái nhỏ.

Bộ phận dùng

4. Thành phần hoá học

Thạch chứa khoảng 20% nước, 4 – 5% chất vô cơ, lipid (vết), 4 – 5% hợp chất có nitơ. Thạch cơ thể phân tách thành 2 phân đoạn: agarose và agaropectin. Agarose được cấu tạo bởi nhiều đơn vị agarobiose. Agarobiose là disaccharid của p – D — galactose và 3 – 6 — anhydro – a – L — galactose (cấu trúc hoá học được xác định sau khi thủy phân bằng acid. Nếu đem thuỷ phân bằng enzym, cấu trúc có khác).

Agaropectin có cấu trúc chưa được xác định rõ ràng. Agaropectin có galactose, anhydrogalactose, nhiều gốc của acid uronic và ester sulfuric.

Có tác giả cho biết thạch chứa 4 – o – methyl – a – L – galactose.

(Từ điển Bách khoa nông nghiệp, 1991; Từ điển Bách khoa dược học, 1999; Rau câu, 1969; Rau câu chỉ vàng, 1986; Matière méđicale, 1965; sổ tay cây thuốc Việt Nam, 1980).

5. Tác dụng dược lý

Trong thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào ung thư người (KB), cao thô chiết với cloroform: methanol 1:2 của rau câu có hoạt tính độc hại tế bào. Nồng độ 1 fig cao/ml môi trường nuôi cấy có tác dụng ức chế 13% sự tăng trưởng của tế bào so với đối chứng.

6. Tính vị, công năng

Thạch chế từ rau câu có vị ngọt, mặn, tính lạnh, trơn nhầy, có tác dụng bổ mát, nhuận tràng.

7. Công dụng

Thạch được dùng làm thuốc chống bốc nóng lên trên đầu, thanh nhiệt ở thượng tiêu, khỏi uất nóng ở trong, và chữa bệnh viêm sưng tinh hoàn.

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top