✴️ Quản lý sức khoẻ môi trường (P4)

Nội dung

Những giải pháp khống chế ô nhiễm môi trường hiện nay do ngành y tế chỉ đạo, bao gồm:

Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy để tăng cường quản lý nhà nước về môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng các cấp:

Phát triển nhân lực.

Đầu tư trang thiết bị theo dõi, giám sát môi trường và giám sát tình hình sức khoẻ, bệnh tật.

Đảm bảo ngân sách, kể cả việc tạo nguồn thu dịch vụ.

Tổ chức và quản lý bộ máy.

Phối hợp liên ngành.

Xã hội hoá các hoạt động bảo vệ môi trường, nâng cao sức khoẻ.

 

VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ  SỨC KHOẺ

Để giải quyết vấn đề môi trường, nhất là môi trường sinh hoạt, nhà ở, đường phố, làng xóm và nơi sản xuất cần phải dựa vào cộng đồng. Đây cũng là xương sống của việc xã hội hoá các hoạt động bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ.

Cộng đồng tham gia vào quản lý môi trường trước hết là phải ý thức được vấn đề môi trường có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của chính cộng đồng và của từng thành viên trong cộng đồng. Nói điều này rất dễ, song thực hiện lại rất khó, một khi kinh tế eo hẹp, người ta nghĩ nhiều đến năng suất và lợi nhuận hơn là việc bỏ tiền, bỏ công cho các hoạt động vệ sinh công cộng. Tự chịu trách nhiệm với môi trường sống của cộng đồng, của gia đình và với sức khoẻ của mình là yếu tố quan trọng nhất trong lôi cuốn cộng đồng tham gia. Cộng đồng tham gia còn thể hiện ở tổ chức các thành viên trong cộng đồng để thực hiện những nhiệm vụ chung. ở đây, cộng đồng phải tham gia vào việc theo dõi môi trường, xác định những vấn đề tồn tại trong bảo vệ môi trường sống, môi trường làm việc của chính họ, tìm các giải pháp cũng như nguồn lực thích hợp và lên kế hoạch, thực hiện kế hoạch làm sạch môi trường, phòng ngừa ô nhiễm, bảo vệ sức khoẻ  của chính gia đình và cộng đồng của mình. Không ít người đến nay vẫn coi xã hội hoá với nghĩa huy động sự đóng góp tài chính của cộng đồng. Điều này không sai, song chỉ đúng được một phần. Cũng không ít người lại thổi phồng vai trò của cộng đồng trong việc lập kế hoạch xử lý môi trường. Về bản chất cũng như lý luận không có gì sai song ở mỗi nước, mỗi địa phương lại có luật lệ, quy định khác nhau. Nếu người không nắm nguồn lực tài chính trong tay thì làm thế nào để có thể lập kế hoạch khả thi được? Nếu ngân sách được chỉ đạo từ tuyến trên thì tự mỗi cộng đồng có được tự ý chi tiêu tiền ngân sách không? nếu cộng đồng không có quỹ riêng mình, việc chủ động đóng góp ngày công đã đủ chưa?…

Những cải tiến cục bộ, những việc làm trong phạm vi gia đình, những hoạt động chi phí không nhiều và hoàn toàn có thể do cộng đồng quyết định từ khâu xác định vấn đề, lập kế hoạch và thực hiện. ở Việt Nam cũng có các bài học kinh nghiệm hay trong chương trình vệ sinh nông thôn và vệ sinh công nghiệp, trong đó với sự hỗ trợ rất ít của cơ quan y tế, tự cộng đồng đã tiến hành các hoạt động cải thiện môi trường sống (ví dụ bài học của huyện Vị Thanh ở Cần Thơ).

Người ta cũng đưa ra khái niệm về chăm sóc môi trường ban đầu (primary environmental care), trong đó tự các nhóm cộng đồng tổ chức với nhau, sự hỗ trợ bên ngoài rất nhỏ giúp họ hiểu và áp dụng các kỹ thuật bảo vệ môi trường dựa trên nhu cầu của chính cộng đồng. Chăm sóc môi trường ban đầu dựa trên nguyên tắc phối hợp ba thành tố: (a) làm thoả mãn nhu cầu cơ bản của cộng đồng; (b) bảo vệ và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên môi trường và (c) nâng cao năng lực bảo vệ môi trường của  cộng đồng.

Có 9 hướng dẫn sau đây giúp cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường của mình:

Hoạt động can thiệp dựa trên nhu cầu và kiến thức sẵn có của cộng đồng. Ví dụ, không ai không cần có nước sạch để dùng (có nhu cầu), ít nhiều một địa phương đều biết tìm nguồn nước sạch cho mình. Tác động bên ngoài chỉ nhằm hướng dẫn họ tìm nguồn nước sạch hơn, bảo vệ nguồn nước và áp dụng các biện pháp đun sôi, lọc nước khi nguồn nước có nguy cơ bị nhiễm bẩn.

Dựa trên tổ chức cộng đồng (xóm phố) và tổ chức hành chính của địa phương. Ví dụ, hiện nay có phong trào làng văn hoá, làng sức khoẻ, các hương ước của làng, xóm, phố đưa ra có các quy định vệ sinh riêng, cũng có những cách xử phạt người vi phạm. Cùng với những quyết định của hệ thống hành chính địa phương, có thể hướng cộng đồng thực hiện những hoạt động bảo vệ và thanh khiết môi trường phù hợp.

Dựa trên các nguồn lực cũng như các kỹ thuật sẵn có của địa phương, thêm vào đó là những hỗ trợ rất nhỏ nhằm giới thiệu hay điều chỉnh các giải pháp kỹ thuật có tính khoa học và hiệu quả hơn (bổ sung cho các phương pháp dân gian, phương pháp theo kinh nghiệm). 

Huy động cộng đồng tham gia quản lý môi trường, lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi và đánh giá.

Bắt đầu các hoạt động bằng một  số công việc/dự án có tính kích thích, lan toả sang các hoạt động khác. Ví dụ, chương trình lồng ghép của UNICEF hỗ trợ cho nông thôn một số tỉnh bắt đầu bằng việc tẩy giun cho trẻ em định kỳ và xây dựng ba công trình vệ sinh, sau đó lan sang các hoạt động chăm sóc sức khoẻ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình...

Hoạt động phải linh hoạt, mềm dẻo.

Các hoạt động cần được duy trì song không đóng khung trong một số hoạt động mà bổ sung thêm, điều chỉnh trong quá trình thực hiện. Điều này rất quan trọng, vì mỗi cộng đồng có các đặc điểm riêng, ngay cùng một cộng đồng ở các thời điểm khác nhau có nhu cầu cũng như cách giải quyết không giống nhau. Thêm vào đó, quá trình hoạt động bảo vệ môi trường là một chuỗi các đáp ứng, là một quá trình động và khá biện chứng. ở một địa phương, nếu khăng khăng theo đuổi một giải pháp cũng chẳng khác nào cứ duy trì một đơn thuốc chữa cho nhiều bệnh khác sau đó.

Nhân rộng các kinh nghiệm thành công và thông báo, rút kinh nghiệm các trường hợp thất bại.

Cán bộ dự án, người chỉ đạo tuyến trên phải có thái độ đúng, phải biết  lắng nghe, biết quan sát, biết nghĩ và biết ra quyết định dựa vào nhu cầu của cộng đồng.

 

LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ SỨC KHOẺ  MÔI TRƯỜNG Ở TUYẾN CƠ SỞ

Việc lập kế hoạch quản lý sức khoẻ  môi trường phải dựa trên các chính  sách và chiến lược của quốc gia, khả năng của các nguồn lực, những vấn đề bức bách của cộng đồng địa phương và của các nhóm dễ bị tổn thương. Kế hoạch quản lý sức khoẻ  môi trường được xây dựng ở nhiều cấp độ: cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh và cả cấp cơ sở. Kế hoạch từ cấp tỉnh trở lên mang tính định hướng chiến lược đầu tư cho sức khoẻ  môi trường. Chúng ta đã đề cập đến vấn đề này ở mục 3.

Trong mục này sẽ đề cập tới kế hoạch can thiệp ở tuyến thực thi các chính sách tuyến cơ sở. Ở đây các hoạt động quản lý môi trường rất cụ thể và rất gần gũi với cộng đồng. Xuất phát điểm của các kế hoạch không chỉ đơn thuần thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch trên giao, thông qua hướng dẫn kế hoạch của Sở y tế, Trung tâm vệ sinh phòng dịch tỉnh theo một quy trình mà còn phải có những sáng tạo (đảm bảo tính mềm dẻo) cũng như phải đáp ứng nhu cầu cấp thiết nhất trên địa bàn dân cư hay cơ sở sản xuất. Muốn xây dựng kế hoạch dựa trên nhu cầu của cộng đồng song lại phải tuân theo một quy trình nhất định, nếu không sẽ chỉ là các hoạt động đối phó, chạy theo thành tích để hoàn thành kế hoạch nhưng thực thế người dân lại ít được hưởng lợi, hoặc chi phí tốn kém mà lợi ích thấp; hoặc gặp phải phản ứng của cộng đồng cũng như của chính quyền địa phương, phản ứng của các chủ sản xuất, làm cho giải pháp thiếu hiệu quả và không có tính khả thi, tính duy trì thấp.

Cách lập kế hoạch trình bày trong sơ đồ 10.2 giúp giảm bớt một số vấn đề tồn tại của cách lập kế hoạch thụ động.

Các bước lập kế hoạch giải quyết vấn đề:

https://healthvietnam.vn/photos/174/y%20h%E1%BB%8Dc%20d%E1%BB%B1%20ph%C3%B2ng/s%E1%BB%A9c%20kh%E1%BB%8Fe%20m%C3%B4i%20tr%C6%B0%E1%BB%9Dng/image058.png

Sơ đồ 10.2. Các bước lập kế hoạch giải quyết vấn đề

Xác định vấn đề cần can thiệp:

Câu hỏi đặt ra cho giai đoạn này là: Cần phải can thiệp gì để cải thiện điều kiện vệ sinh và tăng cường sức khoẻ cho cộng đồng của địa phương mình.

Các câu hỏi tiếp theo là:

Vấn đề sức khoẻ môi trường này cụ thể là gì?

Làm thế nào mà ta biết được đó là vấn đề sức khoẻ  môi trường?

Vấn đề đó có thường hay xảy ra hay không và kéo dài trong bao lâu?

Các hậu quả của vấn đề môi trường lên sức khoẻ và đời sống của cộng đồng?

Làm thế nào để biết là hậu quả đó đã giảm hoặc được giải quyết nếu ta đưa ra giải pháp can thiệp?

Phân tích, tìm hiểu vấn đề dự định can thiệp:

Khi đã xác định được vấn đề cần can thiệp, bước tiếp theo là phải phân tích để hiểu rõ vấn đề qua việc đặt một số câu hỏi (trước khi can thiệp) sau đây:

Ai sẽ tham gia vào quá trình can thiệp và ai sẽ được hưởng lợi, ai sẽ bị ảnh hưởng?

Vấn đề xảy ra ở đâu?

Vấn đề xảy ra khi nào?

Hậu quả của vấn đề ô nhiễm môi trường trên sức khoẻ  và kinh tế xã hội là gì?

Tại sao có vấn đề đó?

ở giai đoạn này, người ta khẳng định lại vấn đề cần can thiệp và phân tích các nguyên nhân dẫn đến vấn đề này. Các kỹ thuật về căn nguyên, sử dụng các nguồn số liệu sẵn có và các kết quả khảo sát môi trường, đánh giá tình trạng sức khoẻ  bệnh tật sẽ làm cho các suy luận có cơ sở hơn. Các kỹ thuật đặt câu hỏi "nhưng - tại sao" cũng khá phù hợp nếu không có khả năng và /hoặc không cần khảo sát môi trường bằng các thiết bị kỹ thuật. Các phương pháp làm việc nhóm, phương pháp chuyên gia kết hợp với các số liệu sẵn có về sức khoẻ cộng đồng, với kinh nghiệm của các địa phương khác, nước khác đều rất có ích và với độ tin cậy có thể chấp nhận được.

Đề xuất giải pháp và quy trình can thiệp:

Sử dụng kết quả của bước (1) và (2) để đề xuất các giải pháp phù hợp. Nếu có thể được, nên có những thử nghiệm diện hẹp để rút kinh nghiệm trong quản lý chương trình can thiệp, tìm ra các yếu tố làm tăng hiệu quả can thiệp và nhất là được cộng đồng chấp nhận cao nhất.

Lập kế hoạch can thiệp:

Để kế hoạch khả thi phải cân nhắc 3 yếu tố:

Đầu vào.

Giải pháp kỹ thuật, giải pháp tổ chức và các cản trở khi thực hiện.

Kết quả mong đợi.

Khó có thể xác định một cách rõ ràng trong ba yếu tố trên, yếu tố nào là quan trọng nhất. Nếu chỉ dựa vào đầu vào thì sẽ dễ dàng bi quan nếu đầu vào không đủ, nhưng sẽ không thể làm gì nếu thiếu nguồn lực. Nếu dựa vào kết quả mong đợi, dễ lâm vào xu hướng duy ý chí, nhưng nếu không biết rõ cái định cần đạt thì làm sao có thể tìm kiếm nguồn lực và giải pháp phù hợp được? Trong quá trình cân nhắc giữa đầu vào và kết quả mong đợi, luôn tính toán các giải pháp can thiệp để: sử dụng nguồn lực hạn chế một cách có hiệu quả nhất để đạt mục tiêu đã đề ra.

Trong bản kế hoạch phải định rõ các mục tiêu, mỗi mục tiêu lại có thể được thực hiện bằng một hoặc nhiều giải pháp. Mỗi giải pháp lại cấu thành bởi nhiều nhóm hoạt động và hoạt động cụ thể. Đối với từng hoạt động, phải phân công người, cơ quan chịu trách nhiệm chính, cơ quan và tổ chức hỗ trợ. Các nguồn lực cần thiết cho các giải pháp cũng phải được xác định rõ: bao nhiêu, ai cấp, cấp khi nào, cơ chế nào, văn bản nào cho phép sử dụng các nguồn lực đó.

Kết quả đầu ra cần được thể hiện rõ bằng các chỉ số đo lường được. Có thể có 2 nhóm chỉ số đầu ra: (1) Chỉ số về các hoạt động (performance) đã được thực hiện (ví dụ, tỷ lệ lượng rác thải được thu gom và xử lý, tỷ lệ trẻ em được xét nghiệm phân tìm trứng giun...). (2) Các chỉ số hiệu quả (impact) thể hiện trên các tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, hiệu quả lợi ích kinh tế...

Trong bản kế hoạch cũng phải ghi rõ cơ chế tổ chức, quản lý hoạt động can thiệp. Các hoạt động theo dõi giám sát cũng như công cụ và phương pháp theo dõi giám sát các hoạt động can thiệp. Những chi tiết về xây dựng kế hoạch can thiệp sức khoẻ  môi trường sẽ được học cụ thể hơn trong bài thực hành.

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top