✴️ Hạ canxi máu là gì?

Nội dung

Nguyên nhân

Hạ canxi máu có một số nguyên nhân, bao gồm:

  • Suy tuyến cận giáp

  • Giả suy tuyến cận giáp

  • Thiếu hụt và phụ thuộc vitamin D

  • Bệnh thận

Suy tuyến cận giáp

Suy tuyến cận giáp có đặc trưng bởi hạ canxi máu và tăng phosphate máu và thường gây ra các cơn tetany mãn tính. Suy tuyến cận giáp là kết quả từ thiếu hụt hormon cận giáp (PTH), có thể xảy ra trong các rối loạn tự miễn dịch hoặc sau khi tình cờ bị cắt bỏ hoặc tổn thương nhiều tuyến cận giáp trong phẫu thuật cắt tuyến giáp . Suy tuyến cận giáp thoáng qua là thường gặp sau khi cắt tuyến giáp bán phần, nhưng suy tuyến cận giáp kéo dài xảy ra < 3% các trường hợp cắt tuyến giáp thực hiện bởi các bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm. Các biểu hiện của hạ canxi máu thường bắt đầu khoảng 24 đến 48 giờ sau mổ nhưng có thể xảy ra sau vài tháng hoặc nhiều năm. Thiếu hụt PTH là phổ biến hơn sau khi cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp do ung thư hoặc là kết quả của phẫu thuật trên tuyến cận giáp (phẫu thuật cắt bán phần hoặc toàn phần tuyến cận giáp). Các yếu tố nguy cơ đối với hạ canxi máu nặng sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp bán phần bao gồm:

  • Tăng canxi máu nặng trước mổ

  • Cắt bỏ u tuyến lớn

  • Phosphatase kiềm tăng cao

  • Bệnh thận mạn tính

Bệnh suy tuyến cận giáp vô căn là một rối loạn di truyền ít gặp trong đó tuyến cận giáp không có hoặc bị teo. Nó biểu hiện bệnh ở giai đoạn trẻ em. Thỉnh thoảng không có các tuyến cận giáp, bất sản tuyến ức, và bất thường của các động mạch xuất phát từ thân động mạch cánh tay đầu (Hội chứng DiGeorge) . Các dạng di truyền khác bao gồm hội chứng suy đa tuyến tự miễn, suy tuyến cận giáp tự miễn liên qua tới nấm candida niêm mạc, và suy tuyến cận giáp vô căn liên kết NST lặn X.

Thiếu hụt và phụ thuộc Vitamin D

Vitamin D được đưa vào qua thực phẩm giàu vitamin D tự nhiên hoặc được bổ sung. Vitamin D cũng được hình thành trong da dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời (tia cực tím). Thiếu vitamin D có thể là kết quả của chế độ ăn uống không đầy đủ hoặc giảm sự hấp thụ do bệnh gan mật hoặc rối loạn hấp thu đường ruột. Nó cũng có thể là kết quả của sự thay đổi trong sự chuyển hóa vitamin D như xảy ra với một số loại thuốc (ví dụ như phenytoin, phenobarbital, rifampin) hoặc do giảm hình thành do da thiếu tiếp xúc ánh sáng mặt trời. Người cao tuổi cũng làm giảm khả năng tổng hợp qua da.

Giảm tổng hợp ở da là một nguyên nhân quan trọng gây thiếu vitamin D thường gặp ở những người dùng phần lớn thời gian ở trong nhà, những người sống ở vĩ độ cao ở miền bắc hay miền nam, và mặc quần áo che phủ toàn bộ hoặc thường xuyên sử dụng kem chống nắng. Theo đó, thiếu vitamin D dưới lâm sàng khá phổ biến, đặc biệt là trong những tháng mùa đông ở khí hậu ôn đới ở người cao tuổi. Người cao tuổi là đối tượng có nguy cơ đặc biệt vì giảm khả năng tổng hợp da, thiếu dinh dưỡng và thiếu ánh nắng mặt trời. Trên thực tế, hầu hết những người thiếu hụt vitamin D đều có cả giảm tổng hợp da và thiếu chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, hầu hết các bác sĩ lâm sàng cảm thấy rằng nguy cơ ung thư da lớn hơn trong khi nguy cơ vitamin D thấp hoặc trung bình còn chưa được chứng minh nên việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc không có kem chống nắng không được khuyến cáo; bổ sung vitamin D sắn sàng cho bệnh nhân quan tâm.

Phụ thuộc vitamin D là kết quả của việc không có khả năng biến đổi vitamin D thành dạng hoạt động hoặc giảm đáp ứng của các cơ quan đích một cách đầy đủ với vitamin hoạt động.

  • Bệnh còi xương phu thuộc vitamin D type I (bệnh còi xương không điển hình của giả thiếu hụt vitamin D) là một chứng rối loạn nhiễm sắc thể trội liên quan đến đột biến gen mã hóa enzyme 1-alpha-hydroxylase. Thông thường được biểu hiện tại thận, 1-alpha-hydroxylase là cần thiết để chuyển đổi vitamin D không hoạt động thành dạng hoạt tính calcitriol.

  • Trong còi xương phụ thuộc vitamin D type II, các cơ quan đích không thể đáp ứng calcitriol. Thiếu vitamin D, hạ canxi máu, và tình trạng giảm phosphate máu nặng xảy ra. Sự yếu cơ, đau, và biến dạng xương điển hình có thể xảy ra.

Bệnh thận

Bệnh ống thận, bao gồm toan hóa ống lượn gần mắc phải do các chất độc thận (ví dụ như kim loại nặng, đặc biệt cadmium) và toan hóa ống lượn xa, có thể gây hạ canxi máu nặng do mất canxi qua thận và làm giảm chuyển hóa của vitamin D sang dạng hoạt động 1,25 (OH)2D.

Suy thận có thể làm giảm sự hình thành 1,25 (OH)2D do

  • Tổn thương trực tiếp tế bào thận

  • Ức chế 1-alpha-hydroxylase (cần thiết cho sự chuyển đổi vitamin D) do tăng phosphate máu

Triệu chứng và Dấu hiệu

Biểu hiện thần kinh

Co cơ gồm lưng và chi là thường gặp.

Hạ canxi máu kéo dài có thể gây bệnh não nhẹ, lan tỏa và nên nghi ngờ ở bệnh nhân bị chứng sa sút trí tuệ, trầm cảm, hoặc rối loạn tâm thần không giải thích được.

Phù đĩa thị thỉnh thoảng xảy ra.

Hạ canxi máu nặng với canxi huyết thanh < 7 mg/dL (< 1,75 mmol/L) có thể gây tăng phản xạ, tetani, co thắt thanh quả, hoặc co giật toàn bộ.

Tetani là hậu quả đặc trưng của hạ canxi máu nặng nhưng có thể là kết quả của việc giảm lượng canxi ion hóa trong huyết thanh mà không bị hạ canxi máu, ví dụ xuất hiện trong nhiễm kiềm nặng. Tetani được đặc trưng bởi những điều sau:

  • Các triệu chứng cảm giác bao gồm rối loạn cảm giác của môi, lưỡi, ngón tay và bàn chân

  • Co thắt cơ, có thể kéo dài và gây đau

  • Đau nhức cơ

  • Sự co của cơ mặt

Tetani có thể bộc lộ với các triệu chứng tự phát hoặc tiềm ẩn và đòi hỏi các kiểm tra kích thích. Tetany tiềm ẩn thường xảy ra khi nồng độ canxi huyết thanh giảm: 7 đến 8 mg/dL (1,75 đến 2,20 mmol/L).

Dấu hiệu Chvostek và Trousseau có thể dễ dàng được phát hiện để xác định tetani tiềm ẩn

(Dấu Chvostek là co giật không chủ ý của các cơ mặt được bộc lộ bởi gõ nhẹ lên dây thần kinh mặt, phía trước của ống tai ngoài. Nó xuất hiện ≤ 10% người khoẻ mạnh và ở hầu hết những người bị hạ canxi máu cấp nhưng thường không có ở hạ canxi máu mạn tính.

Dấu Trousseau là co cổ tay đột ngột do cách giảm lượng máu cung cấp cho tay bằng băng ép hoặc cuốn huyết áp bơm cao hơn 20 mm Hg so với HA tâm thu được áp dụng cho cánh tay trong 3 phút. Dấu hiệu Trousseau cũng xuất hiện ở nhiễm kiềm, hạ magne máu, hạ kali máu, tăng kali máu và khoảng 6% những người không có rối loạn điện giải.)

Các biểu hiện khác

Nhiều bất thường khác có thể xảy ra với chứng hạ canxi máu mạn tính, như da khô và vẩy, móng dễ gãy, và tóc thô. Nhiễm Candida thỉnh thoảng xảy ra trong hạ kali máu nhưng thường xảy ra ở những bệnh nhân suy tuyến cận giáp vô căn. Đục thủy tinh thể đôi khi xảy ra với chứng hạ canxi máu kéo dài và không thể đảo ngược bằng cách điều chỉnh lượng canxi huyết thanh.

Tìm hiểu: 18 thực phẩm thực vật giàu canxi

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Bệnh viện Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top