Ghi điện não bề mặt vỏ não (electrocorticography - ECoG) là kỹ thuật được thực hiện trong phẫu thuật động kinh, bằng cách đặt các điện cực trực tiếp lên bề mặt vỏ não sau khi mở xương sọ để xác nhận các gai sóng động kinh - dấu ấn chẩn đoán điện sinh lý đặc thù và trực tiếp nhất cho tổn thương gây động kinh. Ghi điện não bề mặt vỏ não cho phép xác định vị trí và phạm vi lan rộng của tổn thương gây động kinh, sau khi đã có các thông tin ban đầu về tổn thương dựa trên các thăm dò trước phẫu thuật. Với các điện cực đặt trực tiếp lên vỏ não, kỹ thuật này có độ chính xác rất cao trong chẩn đoán do không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu thường gặp trong điện não thường quy với các điện cực đặt ngoài da đầu.
Xác định vị trí và phạm vi lan rộng của tổn thương gây động kinh trong phẫu thuật động kinh, sau khi đã có các thông tin ban đầu về tổn thương từ các thăm dò trước phẫu thuật, nhất là trong các trường hợp sau đây:
- Tổn thương gây động kinh ngoài thùy thái dương
- Tổn thương không rõ ràng hoặc âm tính trên cộng hưởng từ.
- Tổn thương gây động kinh nằm sát hoặc chồng lấn vào các vùng chức năng về vận động và ngôn ngữ.
Chưa xác định được tổn thương gây động kinh khu trú dựa trên các thăm dò trước phẫu thuật.
5.1. Người thực hiện:
- 03 bác sĩ: chuyên khoa ngoại thần kinh (01 phẫu thuật viên chính, 02 phẫu thuật viên phụ).
- 01 bác sĩ: chuyên khoa nội thần kinh được đào tạo về điện não
- 01 điều dưỡng/kỹ thuật viên: được đào tạo về ghi điện não
5.2. Thuốc
- Povidone iodine 10%
5.3. Vật tư
- Điện cực xoắn
- Điện cực đĩa
- Bộ điện cực bề mặt vỏ não
- Băng film trong suốt chống nước
- Băng dính.
- Các bộ dây kết nối điện cực (đồng bộ với các điện cực bề mặt vỏ não).
5.4. Trang thiết bị
- Hệ thống máy ghi điện não với 128 kênh ghi.
- 1 ổ cắm điện có tính năng chống nhiễu điện lưới trong phòng mổ.
5.5. Người bệnh
- Người bệnh, gia đình người bệnh được giải thích về kỹ thuật trước khi phẫu thuật động kinh, bao gồm: mục đích, các bước tiến hành, biến chứng, nguy cơ có thể xảy ra, tiên lượng.
- Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật.
5.6. Hồ sơ bệnh án: Kiểm tra hồ sơ bệnh án và người bệnh: đúng người bệnh, hồ sơ bệnh án theo quy định.
5.7. Thời gian thực hiện kỹ thuật: Tùy thuộc từng bệnh nhân, độ khó của phẫu thuật, trung bình khoảng 4 giờ.
5.8. Địa điểm thực hiện kỹ thuật: Phòng phẫu thuật thần kinh.
6.1. Bước 1: Chuẩn bị máy ghi điện vỏ não
- Đặt máy ở vị trí thuận tiện
- Nối điện hệ thống máy điện não vào ổ điện có tính năng chống nhiễu điện trong phòng mổ.
- Kỹ thuật viên khởi tạo chức năng ghi điện vỏ não trên máy ghi.
6.2. Bước 2: Chuẩn bị người bệnh
- Bác sĩ phẫu thuật trợ giúp thao tác trên người bệnh: Người bệnh được cố định trên bàn phẫu thuật, được gây mê theo quy trình phẫu thuật động kinh có ghi điện vỏ não. Đầu bệnh nhân được cố định bằng khung Mayfield, bộc lộ phẫu trường.
6.3. Bước 3: Đặt điện cực tham chiếu
- Kỹ thuật viên đặt 02 điện cực: 01 điện cực tham chiếu đặt đối bên với phẫu trường, 01 điện cực đất thường đặt phía sau đầu, cố định chắc chắn.
- Kỹ thuật viên đặt 02 điện cực theo dõi điện tim: 01 bên trái và 01 bên phải ngực, cố định chắc chắn bằng băng film trong suốt chống nước, băng dính.
6.4. Bước 4: Cài đặt chương trình và kiểm tra nhiễu
- Kỹ thuật viên cài đặt chương trình đơn cực và lưỡng cực dự kiến, kiểm tra nhiễu, kênh điện tim.
- Trong khi phẫu thuật viên mở xương sọ, bộc lộ bề mặt vỏ não, kỹ thuật viên và bác sĩ nội thần kinh theo dõi các tín hiệu trên màn hình, ghi chú các thông tin cần thiết, điều chỉnh các thông số máy nếu cần.
6.5. Bước 5: Đặt điện cực và ghi điện vỏ não trước khi cắt tổn thương
- Phẫu thuật viên chính đặt các điện cực phù hợp lên bề mặt vùng vỏ não đã bộc lộ cần thăm dò, cố định và giữ nguyên vị trí đặt ít nhất 5 phút, kết nối điện cực bề mặt vỏ não với các dây nối và hộp điện cực - máy điện não đồ.
- Bác sĩ gây mê giảm liều và tốc độ truyền thuốc gây mê để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi nhận các sóng điện não bất thường.
- Kỹ thuật viên ghi nhận các sóng điện não bất thường, ghi chú các vị trí điện cực tương ứng và các thông tin có liên quan trên màn hình máy điện não.
6.6. Bước 6: Phân tích sóng điện não trước khi cắt tổn thương
- Bác sĩ nội thần kinh phân tích kết quả sóng điện não thu được.
- Phối hợp với bác sĩ gây mê để điều chỉnh liều các thuốc gây mê để có thể ghi được tốt các sóng điện não.
- Phối hợp với phẫu thuật viên chính để di chuyển các điện cực bề mặt vỏ não, mở rộng diện khảo sát sóng điện não và tham chiếu giữa các lần di chuyển để định khu chính xác vùng sinh động kinh.
- Nhóm làm việc quyết định vùng/vị trí tổn thương nào cần cắt, tương ứng với các sóng điện não bất thường.
6.7. Bước 7: Cắt tổn thương gây động kinh
- Bác sĩ phẫu thuật cắt tổn thương cần cắt lần 1 sau khi có kết quả phân tích điện não đồ bề mặt vỏ não.
- Có thể thực hiện cắt tổn thương nhiều lần tuỳ thuộc kết quả phân tích điện não đồ bề mặt ở các lần tiếp theo và đồng thuận của nhóm làm việc.
6.8. Bước 8: Ghi điện vỏ não sau cắt tổn thương
- Phẫu thuật viên chính đặt lại điện cực bề mặt lần lượt trên vỏ não xung quanh hố phẫu thuật sau cắt.
- Kỹ thuật viên ghi chú vị trí điện cực mới thay đổi.
- Bác sĩ nội thần kinh phân tích kết quả sóng điện não thu được.
- Có thể thực hiện bước này sau các lần cắt tiếp theo đến khi không còn ghi nhận các hoạt động sóng điện não kịch phát dạng sóng động kinh, hoặc nhóm làm việc quyết định ngừng phẫu thuật.
6.9. Bước 9: Kết thúc, thu dọn dụng cụ
- Ghi chú kết thúc bản ghi
- Tắt máy, thu dọn dụng cụ
- Tháo máy, thu hồi trang thiết bị
7.1. Tai biến trong khi thực hiện kỹ thuật
- Chảy máu trong phẫu thuật
- Phù não, trong trường hợp thời gian thực hiện kỹ thuật và thời gian giảm thuốc gây mê kéo dài.
Xử trí: Cầm máu, chống phù não
7.2. Tai biến sau khi thực hiện kỹ thuật
- Chảy máu, phù não.
Xử trí: Cầm máu, chống phù não
7.3. Biến chứng muộn:
- Nhiễm trùng.
Xử trí: điều trị kháng sinh
1. Tatsuya Tanaka, Kiyotaka Hashizume et al (1996). Intraoperative Electrocorticography in Children With Medically Intractable Epilepsy. Neuro med children (Tokyo), 36,440-446.
2. Abraham Kuruvilla & Roland Flink (2003). Intraoperative electrocorticography in epilepsy surgery: useful or not? Seizure, 2003; 12: 577-584.
3. Lei Ding, Christopher Wilke et al (2007). EEG Source Imaging: Correlate Source Locations and Extents with ECoG and Surgical Resections in Epilepsy Patients. J Clin Neurophysiol. 2007 April; 24(2): 130-136.
4. Bo Qiu, Shaowu Ou, Teng Song, Jinqu Hu, Lingtong You, Yong Wang, Yunjie Wang (2014). Intraoperative electrocorticography-guided microsurgical management for patients with onset of supratentorial neoplasms manifesting as epilepsy: a review of 65 cases. Epileptic Disorder 2014; 16 (2): 175-84.
5. Elaine Wyllie, H. Lüders, H. H. Morris (1998). Subdural Electrodes in the Evaluation for Epilepsy Surgery in Children and Adults. Neuropediatric,1988 V, 01.19, pp.80-8.
6. Timothy A. Pedley John S. Ebersole (2003), Current Practice of Clinical Electroencephalography, Third edition, Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia. Chapter 20: Intracranial Electroencephalography, page 639 - 679.
7. Jason Chui, MBChB, FANZCA, FHKCA, * Pirjo Manninen, MD, FRCPC, *Taufik Valiante, MD, PhD, FRCS(C),† and Lashmi Venkatraghavan, MD, FRCA, FRCPC* (2013) The Anesthetic Considerations of Intraoperative Electrocorticography During Epilepsy Surgery. Anesth Analg; 117:479-86