Quản lý thông tin sức khoẻ bà mẹ và trẻ em

Quản lý thông tin sức khỏe bà mẹ và trẻ em là các biện pháp giúp cán bộ y tế xã nắm chắc số người có thai trong từng thôn xóm. Trong đó, ai có thai bình thường, ai có thai nguy cơ cao, việc khám thai của phụ nữ có thai thế nào; hàng tháng sẽ có bao nhiêu người đẻ tại trạm y tế hoặc phải đẻ ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cao hơn; theo dõi, chăm sóc bà mẹ khi sinh đẻ và sau đẻ cho tới hết thời kỳ hậu sản.

Quản lý thông tin sức khỏe bà mẹ và trẻ em là một trong những công việc quan trọng nhất góp phần bảo vệ sức khỏe sinh sản cho mọi gia đình, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ.

Ba công cụ dùng để thực hành công tác quản lý thông tin sức khỏe bà mẹ và trẻ em là:

+ Sổ khám thai (sổ giấy hoặc sổ điện tử).

+ Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em (sổ giấy hoặc sổ điện tử).

+ Bảng Quản lý thai sản (bảng vật lý hoặc bảng điện tử).

1. Sổ khám thai

Sổ Khám thai dùng để ghi chép hoạt động theo dõi, quản lý thai, khám thai. Sổ khám thai là nguồn số liệu để tổng hợp, thống kê và báo cáo các chỉ số về chăm sóc trước sinh.

Sổ khám thai theo mẫu được quy định cụ thể tại thông tư số 23/2025/TT-BYT của Bộ Y tế và các văn bản sửa đổi bổ sung (nếu có). Sổ được sử dụng tại các cơ sở y tế có cung cấp dịch vụ khám thai. Nhân viên y tế mỗi khi cung cấp dịch vụ thăm khám có trách nhiệm ghi chép đầy đủ các thông tin đã quy định trong sổ. Người đứng đầu cơ sở cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc ghi chép sổ khám thai.

Sổ khám thai phải được bảo quản, lưu trữ theo quy định của Bộ Y tế, đảm bảo bí mật thông tin cá nhân của khách hàng. Khuyến khích số hóa Sổ khám thai.

 

2. Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Xem chủ đề “Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em” ở phần Những nội dung khác.

 

3. Bảng quản lý thai sản

Bảng quản lý thai sản là một bảng (vật lý hoặc điện tử) có gắn “con tôm” ghi các thông tin về phụ nữ có thai vào tháng dự kiến sinh của phụ nữ có thai đó.

Bảng có 13 cột dọc, trong đó cột đầu tiên là tên thôn (xóm), 12 cột sau là các tháng ghi từ tháng 1 đến tháng 12.

- Các ô ngang dành cho mỗi thôn (xóm) một ô. Xã có nhiều thôn thì số ô ngang phải nhiều để đủ số thôn trong xã.

- Mỗi "con tôm" được ghi sáu thông tin chính là: Họ và tên, tuổi, PARA, số đăng ký thai, ngày kinh cuối cùng, ngày sinh dự kiến. Thường dùng tôm màu xanh cho trường hợp phụ nữ có thai chưa sinh lần nào (thai con so); tôm màu vàng cho phụ nữ có thai sẽ sinh lần 2 và tôm mầu đỏ cho phụ nữ có thai sẽ sinh từ lần 3 trở lên. Ngoài ra nếu là trường hợp thai nghén có nguy cơ cao thì đánh một dấu hoa thị ở góc. Tôm sẽ được gắn (hay dán) vào một ô nằm trong tháng dự kiến sinh của phụ nữ có thai, phù hợp với ô có vị trí thôn (xóm) của phụ nữ có thai đang cư trú.

- Phần cuối của bảng quản lý thai sản là các ô "Sau đẻ". Sau khi sản phụ đã đẻ thì con tôm ghi các thông tin về sản phụ đó được gỡ ra chuyển xuống đây theo dõi, chăm sóc sau đẻ.

Bảng quản lý thai sản giúp cho cán bộ y tế biết được:

- Số sản phụ dự kiến sẽ sinh mỗi tháng (và cả số có nguy cơ cao trong thai nghén). Trên cơ sở đó chủ động có kế hoạch chuẩn bị chu đáo cho việc sinh đẻ của nhân dân trong xã (nhất là vào những tháng có thể xảy ra thiên tai, bão lụt).

- Tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) của toàn xã (thông qua số tôm màu xanh, vàng, đỏ).

- Phát hiện kịp thời số sản phụ có thai quá hạn, hoặc đã sinh ở nơi khác… (khi đến hết tháng mà "con tôm" vẫn còn nằm tại chỗ chưa được lột ra chuyển xuống dưới).

- Nắm chắc số lượng sản phụ đã đẻ để có kế hoạch thăm cả mẹ và con tại nhà.

return to top