✴️ Quản lý sức khoẻ môi trường (P3)

Nội dung

Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ nguy cơ, ngăn ngừa hậu quả:

Dựa trên các chính sách quốc gia về bảo vệ môi trường, bộ luật môi trường và các điều trong các bộ luật khác có liên quan đến bảo vệ môi trường, căn cứ vào năng lực khống chế và kiểm soát môi trường của các cơ sở y tế, của ngành công nghệ - tài nguyên - môi trường và trên quá trình phân tích tình hình môi trường, hậu quả của môi trường lên sức khoẻ của địa phương để đề xuất các giải pháp phù hợp với những ưu tiên, với nguồn lực có thể có được, khả thi và có giải pháp hữu hiệu.

Nguyên tắc của các chiến lược môi trường dựa trên các nguyên lý cơ bản như:

Công bằng, hiệu quả và cộng đồng tham gia.

Các giải pháp có thể ở các nước khác nhau: 

Dự phòng cấp I: Ngăn không để xảy ra ô nhiễm quá mức và không để xảy ra hậu quả xấu trên sức khoẻ. Ví dụ: Các chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn; các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn phát sinh (không sử dụng nguyên liệu phát sinh độc hại, hạn chế nguồn nhiên liệu phát sinh khói, bụi, áp dụng công nghệ sạch, bảo vệ khối cảm thụ...)

Dự phòng cấp II: Trong trường hợp không thể khống chế được ô nhiễm và hậu quả xấu lên sức khoẻ đã xảy ra, lúc đó cần phải áp dụng các biện pháp quản lý sức khoẻ và điều trị phù hợp ngăn không để xảy ra tai biến hoặc chết. Ví dụ: Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI), chương trình tiêu chảy trẻ em (CDD), khám phát hiện sớm và điều trị cho các trường hợp bị bệnh do ô nhiễm môi trường và bệnh nghề nghiệp. 

Việc chọn các vấn đề ưu tiên dựa trên kết quả đánh giá tác động môi trường (EIA); trên năng lực ứng phó về mặt kỹ thuật, về nguồn lực sẵn có, trên diện tác động của vấn đề, tính trầm trọng của vấn đề và trên đặc tính của cộng đồng chịu nguy cơ (đặc điểm kinh tế, văn hoá: Ưu tiên người nghèo, văn hoá thấp và tính dễ bị tổn thương: bà mẹ, trẻ em...). Khi chọn các vấn đề ưu tiên cần có sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, được Hội đồng nhân dân ủng hộ, được các ban ngành hữu quan hỗ trợ và cùng cộng tác. Việc lôi cuốn các cơ quan nhà nước chưa đủ, phải có cả sự tham gia (tự nguyện hoặc cưỡng chế) đối với các cơ sở tư nhân. Sau cùng, phải dung hoà được những lợi ích của các bên có liên quan, sao cho mục tiêu bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ  đạt được nhưng không hoặc ít gặp phải sự phản ứng của cộng đồng hay những người có quyền ra chính sách phúc lợi công cộng khác.

Trong quá trình xây dựng các chiến lược đã cần có sự tham gia liên ngành thì khi thực thi cũng cần có sự đóng góp của liên ngành cùng với sự tham gia của cộng đồng. Chỉ riêng các cơ sở y tế dự phòng thì không thể giải quyết được các vấn đề môi trường -sức khoẻ cho dù hiện nay đã có luật. Việc điều chỉnh chính sách, thay đổi chiến lược cho phù hợp với từng địa phương, từng cộng đồng ở các thời điểm khác nhau là hết sức cần thiết. Các giải pháp đưa ra có thể theo một lịch trình dài nhiều năm, song cũng có thể chỉ trong một tình huống, một thời gian giới hạn. Các giải pháp dài hạn phải lồng ghép trong quy hoạch phát triển kinh tế -văn hoá -xã hội của địa phương hay trong quy hoạch phát triển ngành y tế. Các giải pháp ngắn hạn mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn khi ứng phó với các tình huống có tính cấp bách song sau đó phải đưa ra các giải pháp có cơ sở hơn và vững bền hơn.

Xác định tính khả thi của các giải pháp:

Như trên đây đã trình bày các yếu tố cần đưa ra để xem xét khi xác định các vấn đề ưu tiên cần giải quyết, trong đó có tính khả thi về kỹ thuật (nghĩa là đã có giải pháp kỹ thuật hiệu quả) và khả thi về tổ chức (nghĩa là đã có các tổ chức thực hiện khá hoàn chỉnh để thực hiện các giải pháp kỹ thuật).

Tính khả thi còn tuỳ thuộc vào khả năng các nguồn lực (nhân lực, tài chính và thiết bị). Không cỗ máy nào hoạt động mà không cần đến nguồn điện hoặc nhiên liệu. Thiếu nguồn lực cũng như xe ô tô không có xăng, như một cơ sở sản xuất nghèo nàn, yếu kém vì không có đủ nguyên liệu, nhiên liệu. Tính khả thi còn thể hiện ở sự cam kết ủng hộ của chính quyền ở đây và sự tham gia của cộng đồng. Sự cam kết không chỉ trên giấy mà phải bằng việc đảm bảo các nguồn lực cần thiết.

Xây dựng hệ thống luật pháp, các văn bản pháp quy quản lý môi trường:

Tất cả mọi hoạt động bảo vệ môi trường cần được thể chế hoá bằng các luật, pháp lệnh, các nghị định của Chính phủ, Quốc hội, các thông tư hướng dẫn của các bộ- ngành, quyết định của các cơ quan chính quyền và sự chỉ đạo của cơ quan Đảng. Việc thanh tra môi trường cũng dựa trên các quy định có tính pháp lý. Thanh tra môi trường hoạt động yếu cũng giống như tại nơi công cộng không có sự giám sát của lực lượng công an vậy.

Điều chỉnh chính sách và luật lệ:

Chính sách không phải là bất biến. Các điều luật định kỳ cũng được xem xét, sửa đổi và bổ sung. Nhiệm vụ của các cơ quan y tế cũng như cơ quan môi trường trong khi thực hiện các luật định phải phát hiện những điểm bất hợp lý, điểm thiếu hụt trong các văn bản và đề xuất những sửa đổi lên cấp có thẩm quyền (cấp ra văn bản cũng là cấp phải sửa đổi văn bản khi cần thiết).

Các chiến lược và chuẩn mực trong quản lý môi trường:

Các chiến lược về môi trường phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng quốc gia, từng địa phương, song các chuẩn mực về môi trường thì lại rất ít thay đổi. Hiện nay, các tiêu chuẩn tiếp xúc hay tiêu chuẩn vệ sinh cho phép của Việt Nam cũng đã dựa trên hầu hết các chuẩn mực quốc tế. Như vậy, sẽ nẩy sinh mâu thuẫn giữa năng lực kiểm soát môi trường còn rất giới hạn với những chuẩn mực quá cao so với khả năng áp dụng và khả năng tuân thủ trên thực tế.

Thêm vào đó, các chuẩn mực phải đi kèm với kỹ thuật chuẩn mực để đánh giá ô nhiễm môi trường. Điều này cũng là một bất cập trong thực tế, khi các kỹ thuật đánh giá ô nhiễm ở các tỉnh hiện nay còn rất giới hạn. áp dụng chuẩn mực nào, giới hạn nào là chấp nhận được vẫn là các câu hỏi cần được xem xét thêm.

 

NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Vấn đề môi trường ở Việt Nam được ngành y tế đề cập đến đầu tiên và vào những ngày đầu sau cách mạng Tháng Tám. Lúc này Đảng và Chính phủ đã phát động các phong trào vệ sinh phòng bệnh mà nội dung chủ yếu là giữ gìn vệ sinh môi trường sinh hoạt và vệ sinh trong gia đình. Hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường là nhiệm vụ do ngành y tế đảm nhiệm với vai trò chính mãi tới tận thập kỷ 70. Sau đó, ngành công nghệ và môi trường mới được thành lập và gánh vác nhiệm vụ với vai trò ngày càng tăng, không chỉ ở cấp quốc gia mà còn ở cả các địa phương.

Các giải pháp quản lý vệ sinh môi trường của ngành y tế:

Đây là tập hợp các hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề phâ n, nước, rác thải trong môi trường sinh hoạt và giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường công nghiệp, nông nghiệp và sau đó là quản lý các chất thải rắn và lỏng ở quy mô lớn hơn, nhất là sau khi có Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam (1993). Sự phối hợp của ngành y tế, ngành khoa học công nghệ -môi trường cùng với việc đưa ra các pháp lệnh, nghị định của Quốc hội, của Chính phủ thể chế hoá các biện pháp bảo vệ môi trường đã làm cho các hoạt động quản lý môi trường có cơ sở hơn và được đầu tư tổng thể hơn.

Các văn bản về quy định tiêu chuẩn vệ sinh của ngành y tế đề xuất và ban hành dựa trên các tiêu chuẩn của Liên Xô cũ và của Tổ chức Y tế Thế giới là bản tiêu chuẩn rất ưu việt. Tuy nhiên, để thực hiện các tiêu chuẩn đó còn gặp rất nhiều khó khăn do: ý thức tự giác của cộng đồng còn thấp, kinh tế khó khăn làm hạn chế các biện pháp cải thiện môi trường, công nghệ lạc hậu cũng gây ra những vấn đề ô nhiễm rất đáng lo ngại, quy hoạch đô thị  cũng như quy hoạch khu kinh tế còn rất yếu kém, di dân thiếu tổ chức, tệ nạn phá rừng và dân số gia tăng làm cho tốc độ sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên tăng, các tập quán lạc hậu cùng các yếu tố địa lý dân cư của nhiều vùng vẫn là mảnh đất tốt cho các công trình vệ sinh của hộ gia đình tồn tại ở cấp độ rất thô sơ (ví dụ: tình trạng sử dụng cầu tiêu ao cá ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, tình trạng nuôi trâu bò dưới nhà sàn ở miền núi phía Bắc...).

Đặc điểm môi trường nông thôn nước ta vẫn là ô nhiễm bởi các chất thải hữu cơ. Thêm vào đó là hoá chất bảo vệ thực vật làm ô nhiễm nguồn nước và làm nhiễm độc các động thực vật thuỷ sinh. Các làng nghề ở nông thông đang trở thành nguồn ô nhiễm mới hiện nay.

Đặc điểm môi trường thành phố là ô nhiễm công nghiệp trong cơ sở sản xuất và nước thải, rác thải ra khu vực ngoại thành. Tình trạng "bóng rợp đô thị" ở các vùng ngoại ô hứng chịu nước thải, rác thải của thành phố cũng đã được cảnh báo, song quản lý vấn đề này còn có nhiều hạn chế. Thiếu quy hoạch đô thị tạo ra các yếu tố nguy cơ sức khoẻ  môi trường như mất vệ sinh nhà ở, tình trạng ngập lụt trong thành phố, khói xả của các động cơ, tiếng ồn giao thông v.v... Lưu thông các loại thực phẩm không hợp vệ sinh cả về mặt hoá học, lý học và vi sinh vật là các yếu tố độc hại khôn lường. Điều đáng lưu ý là những gì đang xảy ra đối với môi trường ở Việt Nam rất giống với những gì đã xảy ra ở các nước có nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực. ở đây, vai trò hợp tác quốc tế chưa phát huy tác dụng, những sai lầm vẫn bị lặp lại mà không có biện pháp quản lý, phòng ngừa thích hợp. 

Vai trò của ngành y tế còn rất hạn chế trong cơ chế thị trường, nơi mà các quy luật về lợi nhuận chi phối rất mạnh. Tuy nhiên, việc thay đổi các quy định, các chính sách để có tính khả thi cao hơn, được chấp nhận nhiều hơn và có hiệu quả hơn là rất cần thiết. Các quy định vệ sinh ban hành ở các nước phát triển cao thường quá khắt khe, trong khi đó khả năng kiểm soát việc thực thi các quy định đó lại rất hạn chế. Điều này đặt ra cho các nhà quản lý môi trường việc điều chỉnh các văn bản cho  phù hợp.

Điều hành bằng pháp luật ở cấp quốc gia:

Như đã đề cập ở trên, các văn bản do ngành y tế chuẩn bị và ban hành chủ yếu tác động ở tầm vi mô nhiều hơn là ở tầm vĩ mô. Ví dụ, đưa ra các tiêu chuẩn vệ sinh về nguồn nước, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh lao động... Các văn bản do Bộ Tài nguyên và Môi trường (trước đây là Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường) chỉ đạo các hoạt động bảo vệ môi trường ở tầm vĩ mô hơn, có tính ngăn ngừa nhiều hơn và hướng về bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở tầm chính sách và chiến lược. Ngày càng cần các văn bản có tính liên bộ và văn bản của chính phủ trong điều phối các hoạt động bảo vệ sức khoẻ  môi trường.

Cũng cùng chung với tình trạng thực hiện các tiêu chuẩn vệ sinh, các văn bản tuy có tính pháp lý cao của ngành tài nguyên - môi trường cũng gặp rất nhiều khó khăn; trong đó có năng lực của những người quản lý cấp tỉnh còn yếu, có sự bất cập giữa các văn bản yêu cầu rất cao, rất ưu việt với mức đầu tư thấp về nguồn lực cho các cơ quan quản lý môi trường.

Thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường:

Việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường phụ thuộc vào mức thu nhập quốc dân và chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu, khi mức bình quân thu nhập đầu người ở mức thấp (khoảng dưới 1.000 USD / người / năm) thì mức ô nhiễm (ví dụ: Ô nhiễm khí SO2) trong môi trường càng tăng. ở thời gian này, các mục tiêu kinh tế được đặt lên hàng đầu, trong khi đó khả năng kỹ thuật lại còn hạn chế, mức đầu tư cho bảo vệ môi trường thấp làm cho càng phát triển sản xuất thì nguy cơ thải SO2 ra môi trường càng nhiều. Đến giai đoạn sau, khi nền kinh tế đã phát triển, những khó khăn ở giai đoạn đầu giảm đi, khả năng đầu tư cho phòng chống ô nhiễm tăng lên, công nghệ ở trình độ cao hơn vì vậy mức ô nhiễm sẽ giảm đi. 

Đây là một ví dụ cụ thể về ô nhiễm chất khí SO2 chỉ điểm của ô nhiễm môi trường công nghiệp nhưng cũng có thể suy luận rộng ra cho nhiều yếu tố ô nhiễm khác. Chúng ta cũng nhận thấy việc kiểm soát bằng luật lệ đối với những nước đang phát triển như Việt Nam là không dễ dàng. Cũng có thể dự đoán rằng chúng ta đang ở thời kỳ mà mức ô nhiễm môi trường tăng tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, các biện pháp quản lý môi trường cần được đặc biệt chú ý. Rất tiếc là chúng ta chưa có các số liệu dự báo ô nhiễm đáng tin cậy, cũng như mức đầu tư cho chống ô nhiễm còn rất hạn chế và khó tính toán. Như vậy, câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý môi trường ở cấp vĩ mô là cần đầu tư bao nhiêu, giải quyết yếu tố nào, yếu tố nào cần ưu tiên giải quyết trước v.v... hiện vẫn chưa tìm được câu trả lời thoả đáng.

Việc vận động nhân dân làm sạch môi trường còn lúng túng vì chưa tìm được giải pháp có tính duy trì. Ví dụ, vào giữa những năm 90 phong trào xoá cầu tiêu ao cá ở đồng bằng Sông Cửu Long được thực hiện rầm rộ, có tỉnh "xoá cầu tiêu ao cá" trong vài tháng, song lúc đó không tìm được loại hố xí nào phù hợp và được cộng đồng chấp nhận nên chỉ vài tháng sau, các "cầu cá" lại "tái lập" như trước đó. Vì vậy, khu vực này vẫn lưu hành các bệnh dịch đường tiêu hoá như thương hàn, lỵ và cả bệnh tả.

Hiện nay, các phong trào "Làng văn hóa - Sức khoẻ" đang được Bộ Y tế phát động, trong đó có việc khôi phục lại các chương trình vệ sinh nông thôn trước đây. ở thành phố, nhờ có sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, nhiều nơi đang thực hiện chương trình "thành phố lành mạnh", chương trình phòng chống bệnh bụi phổi silic đang được hiện ở một số cơ sở có ô nhiễm bụi... Cho dù có không ít cố gắng của ngành y tế trong việc kiểm soát môi trường, tình hình ô nhiễm vẫn có xu hướng  gia tăng.

Xem tiếp: Quản lý sức khoẻ môi trường (P4)

 

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh

  facebook.com/BVNTP

  youtube.com/bvntp

Chia sẻ trên Zalo
return to top