- Định nghĩa: Đo phản xạ H là kỹ thuật kích thích điện sợi cảm giác lớn của dây thần kinh, đo sóng F là kỹ thuật kích thích điện một dây thần kinh vận động
- Mục đích: đánh giá chức năng rễ thần kinh và chức năng dẫn truyền của toàn bộ chiều dài dây thần kinh vận động để chẩn đoán các bệnh lý thần kinh ngoại biên.
- Chẩn đoán các tổn thương gây yếu cơ
- Chẩn đoán và tiên lượng tổn thương thần kinh do chấn thương (chấn thương cột tủy, chấn thương dây, rễ thần kinh).
- Giúp xác định chẩn đoán bệnh lý thần kinh ngoại biên
- Chẩn đoán phân biệt những triệu chứng than phiền (đau ở chi, yếu chi, mỏi, chuột rút, bồn chồn, tê bì, rối loạn cảm giác da, dị cảm…).
- Định khu những tổn thương thần kinh cục bộ hoặc do chèn ép hoặc viêm dây thần kinh, bệnh thần kinh vận động, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh rễ thần kinh, bệnh lý đám rối thần kinh.
Người bệnh chức năng sinh tồn không ổn định.
Với người bệnh kém hợp tác làm kỹ thuật như người suy giảm nhận thức, trẻ em.
5.1. Người thực hiện
- 01 Bác sĩ
- 01 Điều dưỡng/ Kỹ thuật viên
5.2. Thuốc: Không
5.3. Thiết bị y tế
- Điện cực hoạt động và điện cực đối chiếu
- Điện cực đất
- Điện cực kích thích
- Paste dẫn truyền
- Gel tẩy da chết
- Máy điện cơ
- Máy in, máy vi tính
5.4. Người bệnh
- NB được giải thích về mục đích, phương pháp thực hiện kỹ thuật và những khó chịu có thể gặp phải. Được yêu cầu hợp tác trong quá trình đo (như thư giãn, thả lỏng cơ…)
- Người bệnh thay quần áo rộng và thoáng để có thể dễ dàng bộc lộ vị trí cần đo.
- Người bệnh nằm hoặc ngồi tư thế thoải mái để chuẩn bị cho quá trình đo
5.5. Hồ sơ bệnh án/ Phiếu chỉ định
- NB ngoại trú: Phiếu chỉ định đo dẫn truyền thần kinh bao gồm thông tin về: tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, chẩn đoán lâm sàng.
- NB nội trú: Gồm cả phiếu chỉ định đo dẫn truyền thần kinh và hồ sơ bệnh án.
5.6. Thời gian thực hiện kỹ thuật: khoảng 5-10 phút
5.7. Địa điểm thực hiện kỹ thuật: phòng thực hiện kỹ thuật.
5.8. Kiểm tra hồ sơ và người bệnh
- Kiểm tra phiếu chỉ định và HSBA (nếu là NB nội trú).
- Chào hỏi, tự giới thiệu: họ tên, nhiệm vụ
- Kiểm tra thông tin người bệnh: họ tên, tuổi, địa chỉ, đối tượng
- Bật máy, bật phần mềm đo điện cơ, nhập thông tin người bệnh
6.1. Bước 1: Vệ sinh tay BS, KTV
6.2. Bước 2: Tẩy vùng da vị trí dự kiến đặt điện cực bằng gel tẩy da chuyên dụng.
6.3. Bước 3: Xác định và đặt các điện cực vào vị trí theo quy định và tiến hành đo:
a. Sóng F:
- Đặt điện cực tương tự trong đo dẫn truyền vận động của dây thần kinh cần khảo sát nhưng điện cực kích thích đặt tại thân dây thần kinh phía ngọn chi và phải để cực âm hướng về gốc chi.
- Cường độ kích thích trên mức tối đa (120%). Sóng F xuất hiện một cách ngẫu nhiên sau sóng M (sóng cơ) với các hình dạng khác nhau.
- Kích thích 16 lần với tần số 0,5 Hz để tính được tần số xuất hiện sóng F của dây thần kinh đó.
b. Phản xạ Hoffman (thường đo ở chi dưới)
- Đặt điện cực ghi ở bụng cơ dép, điện cực đối chiếu gân cơ dép, điện cực đất đặt giữa điện cực ghi và điện cực kích thích.
- Kích thích điện vào thân dây thần kinh ở hố khoeo với điện cực âm hướng về phần gốc.
- Kích thích tăng dần cường độ kích thích tìm phản xạ H cho đến phát hiện sóng F với chuỗi kích thích tần số 0,5Hz.
6.4. Bước 4: Tổng hợp số liệu đo được
Chọn Report để tổng hợp các chỉ số đo được: thời gian tiềm, biên độ, thời khoảng sóng, tốc độ…
6.5. Bước 5: Nhận định kết quả
- So sánh các giá trị đo được với giá trị bình thường.
- Đánh giá bình thường, bất thường phối hợp với bệnh cảnh lâm sàng và các khảo sát điện thần kinh cơ khác.
- Sóng F: hình dạng khác và thấp hơn sóng M và luôn thay đổi, biên độ thường dưới 5% của M. Nếu thời gian tiềm của sóng F kéo dài một cách bất thường thì có thể đoạn bệnh lý nằm ở đoạn gốc dây thần kinh, các đám rối thần kinh hoặc rễ trước. Tổn thương đám rối cánh tay, sóng F tại dây giữa và trụ có thời gian tiềm dài ra và tần số giảm xuống. Trong hội chứng Guillain Barre giai đoạn sớm thời gian tiềm sóng F kéo dài ra rõ rệt hoặc mất hẳn thậm chí ngay cả khi dịch tủy bình thường.
- Phản xạ H: khi kích thích ở cường độ thấp thời gian tiềm không thay đổi, hình dạng gần giống M. Tăng cường độ kích thích phản xạ H biến mất và thay bằng F, trên 1,5 ms. Phản xạ H ở cơ dép/cơ sinh đôi cẳng chân giúp khả năng khảo sát tổn thương rễ S1, ở cơ gấp cổ tay quay cho thông tin về dẫn truyền cảm giác hướng tâm đoạn gần gốc của rễ cổ 6 và 7. Mất phản xạ H là dấu hiệu sớm để chẩn đoán hội chứng Guillain Barre.
6.6. Bước 6: Kết thúc quy trình
- Tháo hệ thống điện cực.
- Vệ sinh vùng da đặt điện cực của NB, thu dọn dụng cụ, làm sạch.
* Những điểm cần lưu ý:
- Thời gian thực hiện kỹ thuật có thể thay đổi tùy thuộc tình trạng bệnh và giải phẫu thần kinh của NB.
- Vị trí đặt các điện cực nên đúng theo quy định, đảm bảo khoảng cách theo chuẩn. Có thể thay đổi trong trường hợp đặc biệt.
- Cường độ kích thích đảm bảo trên ngưỡng kích thích tối đa
- Yếu tố nhiệt độ cơ thể cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả đo, nên sử dụng cảm biến nhiệt để biết được nhiệt độ của người bệnh.
Khảo sát sóng F và phản xạ H là xét nghiệm không xâm lấn nên không có tai biến
1. Bộ y tế (2014). Ghi điện cơ đo tốc độ dẫn truyền vận động và cảm giác của dây thần kinh ngoại biên chi trên. “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật nội khoa, chuyên ngành thần kinh”.
2. Nguyễn Hữu Công (2013). Chẩn đoán điện và bệnh lý thần kinh - cơ.
3. David C. Preston (2020). Barbara E. Shapiro. Electromyography and Neuromuscular Disorders.
4. Junkimura (2001). "Electrodiagnosis in diseases of nerver and muscles. Principles practice". 991 pages.