Đăng nhập

NHỮNG CẬP NHẬT TRONG CHẨN ĐOÁN CẬN LÂM SÀNG BỆNH TIM MẠCH

Hiện nay, các bệnh liên quan đến tim-mạch đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu theo báo cáo thống kê ở nhiều nước; đặc biệt tại châu Á, bệnh tim mạch được xem là “sát thủ” gây tử vong số 1 trong những năm gần đây. Trong những năm gần đây, nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị được ứng dụng đã mang lại cho bệnh nhân chất lượng sống cao hơn và tuổi thọ kéo dài hơn.

NGHIỆM PHÁP GẮNG SỨC

Là biện pháp thăm dò không xâm  lấn,  giúp  chẩn  đoán  khả năng mắc bệnh động mạch vành (ĐMV). Ngoài ra, nghiệm pháp này còn giúp đánh giá về chức năng, mức độ ảnh hưởng của bệnh để bác sĩ có quyết định điều trị đúng đắn. Được chỉ định khi bác sĩ nghi ngờ bạn bị bệnh mạch vành. Bác sĩ hay kỹ thuật viên được đào tạo sẽ làm nghiệm pháp này.

Có nhiều cách làm khác nhau. Thường dùng nhất là các nghiệm pháp điện tâm đồ gắng sức. Bác sĩ sẽ biết tim của bạn đáp ứng ra sao khi nó bị gắng sức. Bạn sẽ tập trên máy đi bộ hay guồng  đạp  xe tại chỗ. Điện tim của bạn, nhịp tim và huyết áp được theo dõi từ đầu đến cuối.

Ngoài điện tâm đồ gắng sức, còn có  nhiều nghiệm pháp gắng sức khác như siêu âm tim gắng sức và siêu âm tim với thuốc tăng co bóp cơ tim. để giúp xác định vùng cơ tim thiếu máu trong bệnh ĐMV hoặc để xác định khả năng  sống  của cơ tim. Tùy từng bệnh nhân và điều kiện của cơ sở y tế mà thầy thuốc sẽ chỉ định nghiệm pháp gắng sức phù hợp.

SIÊU ÂM TIM-MẠCH, ĐẶC BIỆT LÀ SIÊU ÂM DOPPLER TIM

Siêu âm Doppler là một nghiệm pháp hoàn toàn không gây đau, cho phép các bác sĩ quan sát và đánh giá toàn bộ mô cơ tim. Với siêu âm tim, bác sĩ sẽ xem sự co bóp của tim và các chuyển động của thành tim, từ đó phát hiện ra vùng tim giảm vận động, vô động hay vận động nghịch thường so với các vùng khác của tim hoặc xem các buồng tim có bị giãn hay không. Qua siêu âm bác sĩ cũng đánh giá được tình trạng van tim, hẹp hay hở van tim, màng ngoài tim và dịch màng ngoài tim, các luồng thông bất thường trong bệnh lý tim bẩm sinh. Siêu âm Doppler cũng giúp đo áp lực động mạch phổi. Đây là một xét nghiệm không xâm lấn, không gây đau, cung cấp cho bác sĩ nhiều thông tin quan trọng.

Siêu  âm  mạch  máu  giúp  chẩn đoán  được  nhiều bệnh  lý  động mạch  và  tĩnh  mạch,  bao  gồm: các   cục   máu   đông,   van tĩnh mạch  chân hoạt  động  kém  (suy tĩnh mạch), tắc động mạch, các túi  phình  động  mạch,  hẹp  động mạch (ví dụ hẹp động mạch cảnh)

     

SIÊU ÂM TIM QUA THỰC QUẢN

Là một kỹ thuật cho phép nhìn ro hơn các cấu trúc của tim,  giúp xác định chính xác hơn một số chi tiết quan trọng mà siêu âm qua thành ngực có thể bỏ sót như huyết khối trong buồng tim, bóc tách thành động mạch chủ ngực, các lỗ thông bất thường trong tim.

SIÊU ÂM TRONG LÒNG MẠCH

Phương pháp này sử dụng một ống thông chuyên dụng đưa vào trong lòng mạch máu với một đầu dò siêu âm có kích thước rất nhỏ gắn vào đầu xa của ống thông, giúp nhìn thấy cấu trúc bên trong các mạch máu. Thường sử dụng nhiều nhất cho động mạch vành của tim để xác định kích thước và cấu trúc mảng xơ vữa hình thành trong thành mạch cùng với đường kính của lòng động mạch và của đoạn mạch lành để giúp đánh giá chính xác hơn mảng xơ vữa và can thiệp mạch vành hiệu quả tối ưu.

Ngoài ra, siêu âm trong lòng mạch có một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển hiểu biết của chúng ta về sinh lý bệnh của bệnh mạch vành và trong việc phát triển các thuốc dùng cho bệnh tim-mạch cùng các thiết bị điều trị mới.

PHƯƠNG PHÁP CHỤP CẮT LỚP ĐA LÁT CẮT ĐỘNG MẠCH VÀNH

Có thể giúp đánh giá được hệ thống ĐMV, đoạn và mức độ vôi hóa ĐMV mà không phải can thiệp xâm lấn. Phương pháp này thường được chỉ định cho những bệnh nhân không thể thực hiện được nghiệm pháp gắng sức.

Sau khi tiêm vào tĩnh mạch một chất cản quang cùng một số thuốc chọn lọc, bệnh nhân được chụp với một máy cắt lớp hiện đại để có được một hình ảnh 3D của tim và các mạch máu nuôi tim (mạch vành). Hình ảnh sắc nét và chi tiết nhất so với các phương pháp khác. Thời gian tiến hành chỉ mất khoảng 15 phút. Ngoài việc chẩn đoán hẹp ĐMV, có thể xác định bao nhiêu điểm bị xơ vữa cùng mức độ hẹp, có thể giúp dự báo các sự cố và diễn biến của bệnh ĐMV.

PHƯƠNG PHÁP CHỤP MẠCH CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG TIM-MẠCH

Có thể bạn đã quen với một phương tiện giúp chẩn đoán bệnh có tên gọi là chụp cộng hưởng từ (MRI). Phương pháp này sử dụng một từ trường mạnh, các sóng vô tuyến và một máy vi tính tạo ra một máy chụp cắt lớp để chụp một số bộ phận của cơ thể bạn, giúp chẩn đoán nhiều bệnh lý khác nhau, từ rách các dây chằng đến các khối u to nhỏ. Chụp cộng hưởng từ còn rất hữu ích trong khảo sát não và tủy sống.

Chụp mạch cộng hưởng từ (MRA) là một dạng cộng hưởng từ đặc biệt khảo sát tim và các mạch máu của cơ thể bạn. Là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh động và không xâm lấn rất có ý nghĩa trong tim- mạch. Khác với chụp mạch kinh điển, người ta cần phải đưa vào mạch máu của bạn một ống thông, còn trong chụp mạch cộng hưởng từ thì không cần nên ít xâm lấn hơn và ít đau hơn rất nhiều. Bạn chỉ cần nằm trong buồng chụp cộng hưởng từ rộng rãi để được chụp các bộ phận cơ thể cần chụp của bạn. Tiếng máy chạy khá ồn, bạn có thể yêu cầu được đeo các nút tai.

     

Một số trường hợp người ta tiêm vào tĩnh mạch của bạn một chất nhuộm đặc biệt gọi là chất cản từ, để dễ thấy hơn các mạch máu. Cộng hưởng từ có thuốc cản từ  được  sử  dụng cho  nhiều  trường hợp,  bao gồm: hẹp hay tắc các mạch nào đó trong cơ thể, phình mạch hay suy yếu thành động mạch, trít hẹp động mạch chủ, chảy máu hay bóc tách thành động mạch chủ, tìm biến chứng của đột qụy, các bệnh của tim, hẹp hay tắc các mạch của tứ chi, hẹp động mạch thận có thể đưa đến cao huyết áp hay suy thận, thậm chí cả hệ thống động mạch vành.