Đăng nhập

NGHIÊN CỨU Y HỌC TRONG NĂM 2019: NHỮNG PHÁT HIỆN HÀNG ĐẦU?

"Y học là nghệ thuật cao quý nhất", bác sĩ Hy Lạp cổ đại Hippocrates - người mà các nhà sử học gọi là "cha đẻ của y học" - hơn 2.000 năm trước. Những tiến bộ trong điều trị đã giúp chữa khỏi và kiểm soát bệnh tật từ trước thời Hippocrates, và, ngày nay, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm cách diệt trừ bệnh tật, cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống của chúng ta.

"Y học là nghệ thuật cao quý nhất", bác sĩ Hy Lạp cổ đại Hippocrates - người mà các nhà sử học gọi là "cha đẻ của y học" - hơn 2.000 năm trước.

Những tiến bộ trong điều trị đã giúp chữa khỏi và kiểm soát bệnh tật từ trước thời Hippocrates, và, ngày nay, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm cách diệt trừ bệnh tật, cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Mỗi năm, các chuyên gia trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu y học tiến hành các nghiên cứu mới và thử nghiệm lâm sàng giúp làm hiểu rõ hơn về những gì giúp cho sức khỏe của chúng ta, và những yếu tố nào có tác dụng ngược lại.

Và qua mỗi năm, các chuyên gia luôn cố gắng vượt qua nhiều trở ngại, thách thức giữ cho lĩnh vực nghiên cứu y học tràn ngập những sáng kiến và phương pháp mới.

Về các nghiên cứu đã phát triển trong thập kỷ qua, các biên tập viên của tạp chí uy tín PLOS Medicine - trong một bài xã luận gần đây - nhấn mạnh "những cuộc đấu tranh liên tục" với các bệnh truyền nhiễm, cũng như căng thẳng gia tăng giữa hai phương pháp nghiên cứu y học. Những cách tiếp cận này trong nỗ lực tìm kiếm các phương pháp điều trị vừa có hiệu quả đối với tập thể lớn vừa tuân theo khái niệm "cá nhân hóa điều trị", nghĩa là điều chỉnh theo nhu cầu cá nhân.

Bạn bè hay kẻ địch?

            Loại thuốc chúng tôi dùng - theo lời khuyên của bác sĩ - giúp chống lại bệnh tật và cải thiện sức khỏe thể chất hoặc tinh thần. Nhưng những “đồng minh đáng tin này” đôi khi có thể biến thành kẻ thù?

            Hầu hết các loại thuốc có thể gây ra tác dụng phụ, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa thuốc thông thường và nguy cơ dẫn đến các tình trạng bệnh lý khác.

            Vào tháng 3 năm nay, các chuyên gia liên kết với Hội đồng hồi sức châu Âu - với mục tiêu là tìm ra cách tốt nhất để phòng ngừa và đáp ứng với ngừng tim - phát hiện ra rằng một loại thuốc thông thường sử dụng để điều trị tăng huyết áp và đau thắt ngực thực sự có thể làm tăng nguy cơ gây ngừng tim.

            Bằng cách phân tích dữ liệu của hơn 60.000 người, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nifedipine, 1 loại thuốc mà các bác sĩ thường kê đơn cho các vấn đề tim mạch, có thể làm tăng nguy cơ gây "ngừng tim đột ngột".

            Một nghiên cứu khác, xuất hiện trên JAMA Internal Medicine vào tháng 6, đã phát hiện ra rằng thuốc kháng cholinergic - hoạt động bằng cách điều chỉnh sự co cơ và an thần - có thể làm tăng nguy cơ gây sa sút trí tuệ.

            Thuốc kháng cholinergic dùng cho các vấn đề cơ vân không hoạt động chính xác, chẳng hạn như ở bàng quang hoặc đường tiêu hóa và bệnh Parkinson.

            Một nghiên cứu dữ liệu của 58.769 người và 225.574 người không mắc chứng mất trí nhớ.

Nó chỉ ra rằng những người lớn tuổi - ít nhất 55 tuổi - những người thường xuyên sử dụng thuốc kháng cholinergic có khả năng mắc chứng mất trí nhớ cao hơn gần 50% so với những người đồng lứa chưa bao giờ sử dụng thuốc chống cholinergic.

            Nhưng, trong khi các loại thuốc phổ biến mà các bác sĩ đã kê đơn trong nhiều năm có thể đi kèm với những nguy hiểm tiềm ẩn, thì ít nhất, chúng phải được thử nghiệm và đánh giá.

Tim mạch và huyết áp

            Một nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England vào tháng 7 - liên quan đến khoảng 1,3 triệu người - cho rằng, khi dự đoán tình trạng tim mạch của một người, cả hai chỉ số huyết áp đều quan trọng như nhau.

            Cho đến nay, các bác sĩ chủ yếu chỉ quan tâm huyết áp tâm thu cao là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây đã kết luận rằng huyết áp tâm thu và tâm trương cao đều là những chỉ ra các vấn đề tim mạch.

            Khi nói đến việc bảo vệ sức khỏe tim mạch, các nghiên cứu năm 2019 đã chỉ ra rằng chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng. Nghiên cứu trên Tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ vào tháng 8 cho thấy những người tuân thủ chế độ ăn uống từ giàu rau củ có nguy cơ tử vong thấp hơn 32% so với những người khác có cùng bệnh lý tim mạch.

Chế độ ăn uống tốt cho sức khỏe

            Năm 2019, chủ đề về cách lựa chọn thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta vẫn còn phổ biến trong các nhà nghiên cứu và độc giả.

            Theo Google Trends, một số tìm kiếm hàng đầu tại Hoa Kỳ trong năm nay bao gồm chế độ ăn kiêng Ketogenic, chế độ ăn kiêng Noom và chế độ ăn 1.200 calo.

            Một nghiên cứu mới - trong tạp chí Nature Metabolism vào tháng 5 - đã chỉ ra rằng đạm whey, vốn phổ biến ở những người tập thể hình, có thể là mối đe dọa đối với sức khỏe.

            Nếu nạp quá nhiều đạm có thể gây hại đối với sức khỏe, vậy còn chất xơ thì sao? Chất xơ - có trong trái cây, rau và các loại đậu - rất quan trọng trong việc giúp giảm tốc độ cơ thể hấp thụ đường.

Nghiên cứu của 185 nghiên cứu quan sát và 58 thử nghiệm lâm sàng, kéo dài gần 40 năm.

Nó kết luận rằng để giảm nguy cơ tử vong, cũng như tỷ lệ mắc bệnh tim mạch vành, đột quỵ, tiểu đường loại 2 và ung thư đại tràng, một người nên tiêu thụ lý tưởng 25 -29 gram chất xơ mỗi ngày.